Các bước làm diều rồng xếp lớp - Bước 1: Uốn thanh tre nhỏ thành hình tròn trước, bán kính ngẫu nhiên, nhưng không nên lớn quá sẽ làm nặng đầu. Sau đó dùng 2 dải tre nhỏ hơn đan hình chữ thập ở giữa. Buộc bằng dây để an toàn. Hoặc sử dụng thêm keo 502. - Bước 2: Dùng 2 thanh tre khác uốn cong vuông góc 90 độ với khung hình tròn để tạo thành đầu.
Cánh diều được tung lên, tôi vừa chạy vừa giật dây diều rồi từ từ thả dây, cho đến khi cánh diều bay vút lên cao. Ngân đứng nhìn cánh diều không rời mắt, reo hò cứ như đứa trẻ lần đầu nhìn thấy diều bay vậy. Tẹo chạy lại gần cười khành khạch:
Nguồn gốc của trò chơi Thả diều với nhiều ý nghĩa sâu xa. Tục thả diều phổ biến ở nhiều nước Đông Nam Á từ Thái Lan, Campuchia, Lào, Nam Trung Quốc, Việt Nam cho đến các nước Đông - Nam Á hải đảo. Tài liệu có niên đại 972 ghi lại rằng các vật thờ của người
Từ trên không trung, những tiếng sáo du dương, trầm bổng vẳng xuống như có dàn nhạc ở lưng chừng trời. Để tiếng sáo diều làng Bá Dương Nội được gìn giữ đến hôm nay, không thể không nói đến công lao của Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Hữu Kiêm. Ông chính là người nâng niu cánh diều sáo Kẻ Bá, đưa nghệ thuật chơi diều của Việt Nam đến bạn bè quốc tế.
Diều bay, diều lá tre bay lưng trời Sáo tre, sáo trúc vang lưng trời… Gió đưa tiếng sáo, gió nâng cánh diều. Trời cao lồng lộng, đồng ruộng mênh mông hãy lắng nghe tiếng hát giữa trời cao của trúc, của tre… "Tre già măng mọc". Măng mọc trên phù hiệu ở ngực thiếu nhi Việt Nam, lứa măng non của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Trang trước Trang sau. Với Đề cương ôn tập Ngữ văn 6 Giữa học kì 1 Chân trời sáng tạo năm học 2022 - 2023 sẽ tóm tắt và tổng hợp kiến thức cần ôn tập chuẩn bị cho bài thi Giữa kì 1 môn Văn 6. Bên cạnh đó là 3 đề thi Giữa kì 1 Ngữ văn 6 Chân trời sáng tạo chọn
WBrwtlj. Nhạc của trúc, nhạc của tre là khúc nhạc của đồng một buổi trưa nào,nồm nam cơn gió thổi,khóm tre làng rung lên man mác khúc nhạc đồng quê. Diều bay,diều lá tre bay lưng trời Sáo tre,sáo trúc vang lưng trời Gió đưa tiếng sáo,gió nâng cánh diều. Trời cao lồng lộng,đồng ruộng mênh mông, hãy lắng nghe tiếng hát giữa trời cao của trúc,của tre Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Bài giảng Môn Ngữ văn lớp 6 - Cây tre Việt Nam tiết 11, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn hãy click vào nút TẢi VỀ Kiểm tra bài cũ Câu 2 Nhận xet về từ ngữ tác giả sử dụng để miêu tả thiên nhiên? Câu 1Vẻ đẹp của thiên nhiên Cô Tô sau cơn bão được miêu tả như thế nào? Bầu trời Cô Tô trong trẻo ,sáng sủa. Cây trên đảo xanh mượt. Nước biển lại lam biếc đậm đà. Cát vàng giòn hơn. Sử dụng các tính từ chỉ màu săc và ánh sáng trong trẻo, sáng sủa, xanh mượt,lam biếc, vàng giòn. thiên nhiên đẹp nên thơ. Thép Mới 1925- 1991 tên khai sinh là Hà Văn Lộc , quê ở quận Tây Hồ, Hà Nội , sinh ở thành phố Nam Định . Ngoài báo chí,Thép Mới còn viết nhiều bút ký , thuyết minh phim. Bài cây tre Việt Nam là lời bình cho bộ phim cùng tên của các nhà điện ảnh Ba Lan . Thông qua hình ảnh cây tre , bộ phim thể hiện vẻ đẹp của đất nước và con người Việt Nam , ca ngợi cuộc kháng chiến chống thực dân pháp của dân tộc ta. Bài văn nói lên sự gắn bó thân thiết và lâu đời của cây tre với con người Việt Nam trong đời sống,sản xuất,chiến tre có những đức tính quý báu và là biểu tượng của con người Việt Namngay thẳng,thuỷ chung,can đảm. - Đ1Từ đầu……..như người Cây tre và những phẩm chất đáng quý. -Đ2 Nhà thơ…….chung thuỷ Sự gắn bó của cây tre trong cuộc sống và trong lao động. -Đ3 Như tre…….chiến đấuTre sát cánh với con người trong chiến đấu. -Đ4 Phần còn lại Tre là người bạn đồng hành của dân tộc ta trong hiện tại và tương lai. Tre, nứa,mai,vầu mấy chục loại khác nhau, nhưng cùng một mầm non măng mọc thẳng. Vào đâu tre cũng sống,ở đâu tre cũng xanh tre vươn mộc mạc,màu tre tươi nhũn tre lớn lên,cứng cáp, dẻo dai, vững trông thanh cao, giản dị,chí khí như người. Măng tre Hàng tre Bóng tre trùm mát rượi. Bóng tre trùm lên âu yếm làng, bản, xóm, thôn. Dưới bóng tre của ngàn xưa, thấp thoáng mái đình mái chùa cổ kính. Dưới bóng tre xanh, đã từ lâu đời,người dân cày Việt Nam dựng nhà,dựng cửa,vỡ ruộng,khai hoang. Tre ăn ở với người,đời đời,kiếp kiếp. […]Tre là cánh tay của người nông dân Cánh đồng ta năm đôi ba vụ Tre với người vất vả quanh năm. Dưới bóng tre làng Suốt đời người, từ thuở lọt lòng trong chiếc nôi tre, đến khi nhắm mắt xuôi tay, nằm trên giường tre, tre với mình, sống có nhau, chết có nhau, chung thủy. Buổi đầu không một tấc sắt trong tay, tre là tất cả, tre là vũ khí. Muôn ngàn đời biết ơn chiếc gậy tầm vong đã vựng nên thành đồng Tổ quốc ! Và sông Hồng bất khuất có cây chông tre. Gậy tre,chông tre chống lại sắt thép của quân thù. Tre xung phong vào xe tăng,đại bác. Tre giữ làng,giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín. Tre hi sinh để bảo vệ con người. Tre, anh hùng lao động ! Tre, anh hùng chiến đấu ! Chiếc gậy tre. Chông tre. … Nhạc của trúc, nhạc của tre là khúc nhạc của đồng một buổi trưa nào,nồm nam cơn gió thổi,khóm tre làng rung lên man mác khúc nhạc đồng quê. Diều bay,diều lá tre bay lưng trời… Sáo tre,sáo trúc vang lưng trời… Gió đưa tiếng sáo,gió nâng cánh diều. Trời cao lồng lộng,đồng ruộng mênh mông, hãy lắng nghe tiếng hát giữa trời cao của trúc,của tre… Cánh diều tuổi thơ Cây sáo trúc “ Tre già măng mọc”. Măng mọc trên phù hiệu ở ngực thiếu nhi Việt Nam,lứa măng non của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. […] Nhưng, tre, nứa vẫn còn mãi với các em,còn mãi với dân tộc Việt Nam,…. Văn bản cho thấy vẻ đẹp và sự gắn bó của cây tre với đời sống dân tộc ta . Qua đó cho thấy tác giả là người có hiểu biết về cây tre , có tình cảm sâu nặng , có niềm tin và tự hào chính đáng về cây tre Việt Nam . 5 6 4 2 3 1 Ề Ô I D U T M V G Ậ Y N T Ầ G R E S Á O T R E V I N À N G E T I À M Ă N G M Ọ C N A N H Â N H Ó M T R E A G N U H H N TRÒ CHƠI Ô CHỮ T R E G A 1. Ô chữ gồm 4 chữ cái Đồ chơi trẻ em, cốt làm bằng tre và dán giấy, ưa gió. 2. Ô chữ gồm 10 chữ cái Một loại vũ khí thô sơ bằng tre chống lại xe tăng -sắt thép kẻ thù. 3. ô chữ gồm 6 chữ cái Nhạc cụ làm bằng tre 4. ô chữ gồm 4 chữ cái Là tiếng thiếu trong câu ca dao sau “Lạc nầy gói bánh chưng xanh, Cho mai lấy trúc cho anh lấy…” 5. Ô chữ gồm13 chữ cái Sự tiếp nối các thế hệ của tre được đúc kết bằng một thành ngữ. 6. ô chữ gồm7 chữ cái Biện pháp nghệ thuật sử dụng rộng rãi và thành công trong bài “Cây tre Việt Nam” TỤC NGỮ - Tre già khó uốn. - Tre già là bà lim.- Tre non dễ uốn. Thơ Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát. Viễn Phương Làng tôi sau lũy tre mờ xa Tình yêu quê hương những nếp nhà. Hồ Bắc CA DAO - Chặt tre cài bẫy vót chôngTre bao nhiêu lá thương chồng bấy nhiêu. - Em về cắt rạ đánh tranhChặt tre chẻ lạt cho anh lợp nhà Sớm khuya hoà thuận đôi taHơn ai gác tía lầu hoa một mình. - Một cành tre, năm bảy cành tre Đẹp duyên thì lấy chớ nghe họ hàng. -Làng tôi có luỹ tre xanhCó sông Tô Lịch uốn quanh xóm làng. - Trăng lên tắm luỹ tre làng Trăng nhòm qua cửa, trăng tràn vô nôi. HƯỚNG DẪN HỌC BÀI Ở NHÀ -Học thuộc lòng đoạn 1 - Đọc kĩ văn bản , nhớ được các chi tiết , các hình ảnh so sánh , nhân hóa đặc sắc . Hiểu vai trò của cây tre đối với cuộc sống của nhân dân ta trong quá khứ , hiện tại và tương lai. -Sưu tầm một số bài văn , bài thơ viết về cây tre Việt Nam . -Tập vẽ sơ đồ tư duy -Soạn bài “Câu trần thuật đơn”
Câu hỏi Mọi người giúp em bài này ạ1. Cách trình bày các câu văn sau có gì lạ? Câu nào là câu trần thuật đơn? -Diều bay, diều lá tre bay lưng trời…-Sáo tre, sáo trúc vang lưng trời…-Gió đưa tiếng sáo, gió nâng cánh diều. Cho mình hỏi bài này1. Cách trình bày các câu văn sau có gì lạ? Câu nào là câu trần thuật đơn? -Diều bay, diều lá tre bay lưng trời…-Sáo tre, sáo trúc vang lưng trời…-Gió đưa tiếng sáo, gió nâng cánh diều. Xem chi tiết Cho đoạn thơ hãy viết thành bài văn Cánh diều no gió Sáo nó thổi vang Sao trời trôi qua Diều thành trăng vàngCánh diều no gió Tiếng nó trong ngần Diều hay chiếc thuyền Trôi trên sông NgânCánh diều no gió Tiếng nó chơi vơi Diều là hạt cau Phơi trên nong trờiTrời như cánh đồng Xong mùa gặt hái Diều em - lưỡi liềm Ai quên bỏ lại Xem chi tiết Cho đoạn thơ hãy viết thành bài văn Cánh diều no gióSáo nó thổi vangSao trời trôi quaDiều thành trăng vàng Cánh diều no gióTiếng nó trong ngầnDiều hay chiếc thuyềnTrôi trên sông Ngân Cánh diều no gióTiếng nó chơi vơiDiều là hạt cauPhơi trên nong trời Trời như cánh đồngXong mùa gặt háiDiều em lưỡi liềmAi quên bỏ lạinhanh nhe mk tichk chomk can gapĐọc tiếp Xem chi tiết Trong câu"sáo diều trong gió ngân nga" có biện pháp tu từ nào không? Xem chi tiết Trong các câu sau câu nào là câu miêu tả, câu tồn tại a Nhân buổi ế hàng 5 ông thầy bói ngồi truyện ngẫu nhiênb Ngoài sân, đung đưa mấy chùm ổi chínc Dưới bóng tre ngàn xưa, thấp thoáng mái chùa cổ kính d Tiếng sáo diều tre cao ngút mãi Xem chi tiết Văn cảm thụ Bức tranh quê Quê hương đẹp mãi trong tôiDòng sông bên lở bên bồi uốn quanh Cánh cò bay lượn chòng chànhĐàn bò gặm cỏ đồng xanh mượt mà Sáo diều trong gió ngân ngaBình yên thanh đạm chan hòa yêu thương Bức tranh đẹp tựa thiên đườngHồn thơ trỗi dậy nặng vương nghĩa tình. Thu HàCâu 6 Đoạn thơ đánh thức trong em tình cảm gì với quê hương? trả lời bằng một đoạn văn từ 3-5 câu-Câu chủ đề-Gọi tên tình cảm một vài t...Đọc tiếp Xem chi tiết Viết một đoạn văn ngắn từ 5- 7 câu trình bày cảm nhận của em về khổ thơ sau trongbài “Tre Việt Nam” của nhà thơ nguyễn DuyCó gì đâu, có gì đâu,Mỡ màu ít chắt dồn lâu hoá siêng không ngại đất nghèo,Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần mình trong gió tre đu,Cây kham khổ vẫn hát ru lá nhiều nắng nỏ trời xanh,Tre xanh không đứng khuất mình bóng trần phơi nắng phơi sương,Có manh áo cộc tre nhường cho tiếp Xem chi tiết hãy phân tích vẻ đẹp quê hương qua từ ngữ và thủ pháp nghệ thuật đặc sắc "Quê hương là cánh đồng vàng Hương thơm lúa chín mênh mang trời chiều Quê hương là tiếng sáo diều Là cánh cò trắng chiều chiều chân đê". Xem chi tiết “ Em yêu Tổ quốc của em,Có đồng lúa biếc, có miền dừa hoa thơm, có trái lành,Có dòng sông soi bóng vành trăng yêu. Bờ tre cõng tiếng sáo diều,Khúc dân ca lại dặt dìu lời mùa là bốn câu thơ,Ngọt ngào, nồng ấm giữa bờ ca dao.[………..]Dọc ngang biết mấy nẻo đường,Thắm trang sử Việt, rạng chương anh nhiêu chiến thắng lẫy lừng,Làm nên Tổ quốc kiêu hùng hôm nay.” Phương thức biểu đạt chính của bài thơChỉ ra các tiếng mang vần trong khổ 2 Đọc tiếp Xem chi tiết
Trong những lúc gió êm trời đẹp, rất nhiều người đều thích đến ngoại ô hoặc công viên để thả diều. Diều có màu sắc rực rỡ, đủ kiểu đủ dạng bay lượn trên trời xanh, con người và thiên nhiên hoà làm một. Điều đó đối với người thả diều và ngắm diều đều là một loại hưởng thụ đẹp. Thế thì vì sao diều có thể bay lên trời xanh nhỉ? Nếu bạn chú ý quan sát thì sẽ phát hiện, diều bao giờ cũng đón gió mà bay, và “thân mình” của diều bao giờ cũng nghiêng xuống. Đó là điều mấu chốt làm cho diều có thể bay lên trời cao. Trước hết, diều bao giờ cũng hứng gió mà bay. Gió thổi lên diều sẽ sinh ra một áp suất đối với diều, và áp suất đó thẳng góc với mặt diều. Do mặt diều nghiêng xuống dưới, nên gió thổi tới có áp suất nghiêng lên trên đối với nó. Trọng lượng của diều rất nhẹ, áp suất hướng lên trên của không khí đủ để đưa diều lên trời xanh. Khi gió rất nhỏ, người thả diều thường kéo dây diều chạy nhanh đón gió, hoặc đứng tại chỗ không ngừng giật giật dây diều, lợi dụng sự ghì dây để điều chỉnh độ góc nghiêng xuống dưới của mặt diều. Đó đều nhằm tham gia áp suất hướng lên trên của không khí đối với diều, làm cho diều bay càng cao. Diều có cái lớn, cái bé, hình dạng cũng đủ kiểu đủ loại. Bên dưới của nó thường còn đính thêm một ít tua hoặc bông giấy làm thành cái đuôi. Nhìn từ góc độ vật lí học, đó là để làm cho trọng tâm của diều chuyển xuống dưới, có thể nâng cao độ thăng bằng của diều, làm cho nó bay càng ổn định thêm. Từ khóa Diều; Áp suất; Trọng tâm; Thăng bằng.
Ảnh Bình VũĐã bao năm xa quê, mỗi khi nhìn lên bầu trời thấy những chiếc diều giấy, diều vải đủ sắc màu, kích cỡ của trẻ thơ thả trên đồng ruộng hay trên đường phố là bên tai tôi lại văng vẳng tiếng sáo diều của làng quê năm xưa. Quê tôi ở một vùng thuần nông “đất cày lên sỏi đá” bên dòng sông Chu, trong xanh hiền hòa ở những ngày cuối Thu sang Đông, và lồng lộn như trâu điên khi mùa Hè tới. Cứ sắp đến Tết Trung thu là mùa thi thả diều của các làng Hón, làng Rạch, làng Bún, làng Hương lại rộn lên. Nhưng không làng nào có những cái diều to và bộ sáo kêu vi vu suốt đêm như những con diều của làng Hón, quê thả diều có tự bao giờ tôi cũng không rõ nữa, chỉ biết rằng từ những ngày lên năm, lên sáu tôi đã theo các anh chị ra bãi cát Tự nhiên bên bờ sông Chu, hay ra những cánh đồng đã gặt hái xong để xem thả diều. Không phải nhà nào cũng làm được diều đẹp và có bộ sáo kêu hay để thả chơi. Có con diều to như chiếc thuyền tam bản. Nan diều là loại tre bánh tẻ đã được “luộc” nhiều tiếng đồng hồ nhằm tạo sự bền làm diều là loại “giấy bản” mà các cụ đồ xưa thường dùng để viết chữ Nho. Trái “cậy”- một loại trái như trái “hồng” được giã, vắt lấy nước “phất” diều. Đó là thứ nước đắng chát có nhựa sóng sánh, sền sệt rất dính, mối mọt không ăn. Dây để thả diều làm bằng những sợi mây dài chọn lựa kỹ, rất dẻo và bền, nối lại có khi tới vài trăm mét. Cả làng tôi chỉ vài nhà làm được loại diều sáo. Làm diều thì không khó lắm, nhưng làm được bộ sáo 5 chiếc cho đủ âm thanh của nhạc ngũ cung quả là khó. Nào chọn loại tre, trúc nào để phù hợp với từng âm thanh. Người khoét sáo phải có lỗ tai “sành” âm nhạc dân tộc. Nào khoét các ống to nhỏ, dài ngắn khác nhau, nào làm các miệng sáo bằng gỗ vàng tâm gắn vào hai đầu ống tre ra sao để mỗi ống phát ra một âm thanh hồ, xừ, xang, cống, líu của nhạc “ngũ âm” nằm trong các điệu Cung, Thương, Giốc, Chủy, Vũ mỗi khi gió thổi Phạm Ngọc ThạchCứ khoét được một ít người ta lại thổi mạnh vào ống để thử âm thanh đạt chuẩn hay chưa. Cả bộ sáo diều năm chiếc, nếu được một nghệ nhân có lỗ tai thẩm âm tốt, sau khi khoét xong sẽ tạo thành một hòa âm của nhạc phương đông rất hay. Khi gió thổi mạnh thì các ống sáo tiểu phát ra những tiếng “vi… vi” cao vút hơn một quãng tám so với khi gió thổi nhẹ. Âm thanh của các ống sáo trung lại “vo… vo”, còn sáo đại thì “ồ…ồ”, trầm hùng, sâu lắng. Tất cả tạo nên “bè” nhạc như có sự phối khí hài hòa. Tùy theo hướng và tốc độ gió mà sáo diều có khi rộn ràng như tiếng “khèn bè” của người Thái ở Tây Bắc vào hội xuân. Có khi trầm lắng như tiếng violon sen trong dàn nhạc giao hưởng phương Tay. Có lúc lắng động như tiếng “sáo mèo” thủ thỉ gọi bạn tình đêm trăng của người Hmông. Lại có lúc gấp gáp thôi thúc như suối chảy, thác cuốn trong tiếng đàn tơ- rưng của người Tây thả diều phải ít nhất có ba người hai người cầm diều tung lên cao, ngược chiều gió, còn người cầm dây thì chạy thật nhanh một đọan để dây thật căng đẩy diều bay lên. Nếu hôm nào gió nhẹ thì không thả được loại diều đại rộng khoảng 1,5m và hai cánh dài khoảng 4m mà chỉ thả diều trung loại ba sáo, hoặc diều tiểu một sáo. Những con diều khi đã đạt đựơc một độ cao nhất định và “no gió” thì hình như nó “đứng lặng” giữa trời xanh, thỉnh thoảng chao đi chao lại theo chiều gió chút đỉnh. Lúc này, người ta dùng một cây cọc vững để cột dây diều lại. Cứ thế sáo diều vi vu từ chiều tới suốt đêm thấu sáng bản nhạc bất tận của tre, trúc và càng lên cao tiếng sáo càng trong, vang càng xa. Chỉ cần ba bốn con diều trên trời cao là cả một vùng rộng lớn có bán kính vài cây số đều nghe được bản “hợp xướng” của sáo diều. Do sự yêu thích những âm thanh có âm sắc, cao độ, trường độ khác nhau nên nghệ nhân làm diều luôn tạo ra bộ sáo diều có âm lượng đặc sắc riêng. Chính điều đó tạo nên sự đa thanh của sáo diều. Nếu gió đổi hướng chệch khoảng 30 độ thì diều tự điều chỉnh vị trí trên không qua dây “lèo”. Chẳng may gió đổi chiều ngược lại 180 độ thì diều sẽ “lộn lèo”, rớt xuống. Hoặc có khi buộc dây không chắc, gió thổi mạnh thì diều sẽ đứt dây, bay đi theo chiều gió có khi vài cây số mới rớt làng khác nhặt được, có khi chủ diều phải sắm một “lễ” nhỏ, hoặc bỏ ít tiền chuộc lại mới được mang diều về. Nếu diều bị rớt mạnh, bị rách, sáo vỡ thì lại phải “đại tu”. Những người chơi diều cưng “đứa con” này của mình như một tác phẩm nghệ thuật quý hiếm. Hết mùa thả diều, người ta phất lại một lần nước cậy, hoặc nước củ nâu non rồi gác lên xà nhà, đợi đến mùa sau sẽ thả, tranh tài. Có con diều truyền từ đời cha đến đời con, rồi đời cháu. Nước “phất” diều đen xịn lại màu bồ hóng, bộ sáo sẫm bóng như được đánh Dinh Nhu Cam TuynhThường hội thi thả diều được chia làm hai vòng. Vòng “sơ khảo”- đấu loại, thì tất cả các con diều đều được “thả” một lúc. Con nào bay cao, ít bị chao đi chao lại và có tiếng sáo hay sẽ thắng cuộc để bước tiếp vào vòng sau. Ban giám khảo gồm những người đã “sành” nghề chơi diều ở các làng đựơc mời về để chấm thi. Sau vòng “Sơ khảo” người ta chọn ra ba con diều đẹp nhất, bay cao nhất, có bộ sáo kêu hay nhất để vào vòng “Chung kết” lấy giải Nhất, Nhì, Ba. Gọi là giải cho vui chứ về giá trị vật chất thì chẳng đáng là bao. Bên cạnh cái giấy chứng nhận có ký tên và đóng mộc của Chủ tịch xã thường kèm theo gói quà nhỏ như tấm vải may đủ bộ đồ, hoặc hộp bánh, ký đường. Có năm giải Nhất được tặng một cặp gà trống thiến. Có những gia đình mấy đời chơi diều sáo liên tục giành giải cao. Ở làng tôi có gia đình cụ Liệp, cụ Ngữ, cụ Thiên… là những “cự phách” làm diều và thả diều, nhiều lần đoạt nay thú chơi thả diều chỉ còn dành cho con trẻ. Lớp nghệ nhân diều năm xưa ít người còn. Do công việc lôi cuốn, người ta không còn thời giờ và sở thích chơi diều nữa. Những khoảng đất trống ở bãi sông, hoặc đồng ruộng bây giờ làm tới ba vụ, không còn những cánh đồng trống sau thu hoạch nên cũng không còn nơi để thả những con diều to đùng như ngày xưa. Ở làng quê yên tĩnh, lúc nông nhàn, được ra sân ngồi hóng mát, ngắm trăng, uống nước chè xanh và nghe tiếng sáo diều còn gì vui thú bằng. Mỗi khi nhìn những con diều sặc sỡ phần lớn là nhập từ Trung Quốc đủ hình dáng của bọn trẻ thả trên đường phố hay ở sân bóng cũng vui mắt. Những đứa trẻ nghèo thì tự làm diều bằng những mảnh giấy tập đã viết. Chẳng sao, miễn đó là niềm vui và ước mơ của trẻ được bay lên trời xanh như những cánh diều no nhớ lại một câu nhà văn Thép Mới đã viết trong bài tùy bút nổi tiếng “Cây tre Việt nam” để thuyết minh cho bộ phim cùng tên“…Diều bay, diều lá tre bay lưng trời. Sáo tre, sáo trúc vang lưng trời. Gió đưa tiếng sáo, gió nâng cánh diều. Trời cao lồng lộng, đồng ruộng mênh mông hãy lắng nghe tiếng hát giữa trời cao của trúc, của tre…”
“... Nhạc của trúc, nhạc của tre là khúc nhạc của đồng quê. Nhớ một buổi nào, nồm nam cơn gió thổi, khóm tre làng rung lên man mác khúc nhạc đồng bay, diều lá tre bay lưng trời...Sáo tre, sáo trúc vang lưng trời...Gió đưa tiếng sáo, gió nâng cánh cao lồng lộng, đồng ruộng mênh mông hãy lắng nghe tiếng hát giữa trời cao của trúc, của tre...”Trích Cây tre Việt Nam, Thép Mới a. Xác định phương thức biểu đạt của đoạn trích Chỉ ra giá trị biểu cảm của từ “man mác” trong câu văn “Nhớ một buổi nào, nồm nam cơn gió thổi, khóm tre làng rung lên man mác khúc nhạc đồng quê”.c. Nêu cảm nhận của em về cái hay, cái đẹp của đoạn trích Trong đoạn trích trên, tác giả có viết “Nhạc của trúc, nhạc của tre là những khúc nhạc của đồng quê”. Quả đúng như vậy, nhưng để tạo nên khúc nhạc đồng quê còn có rất nhiều âm thanh khác, em hãy viết một đoạn văn khoảng 8 – 10 câu nêu cảm nhận về những khúc nhạc đồng quê ấy.
...Ấy là tình người, hồn quê, là ca dao, cổ tích Mùa thu, mùa buông diều thả lá. Từ xa xưa, cánh diều đã là ước mơ bay của những thiên thần bé nhỏ, những chủ nhân tương lai trên trái đất. Ước mơ bay là một trong những ước mơ vĩ đại nhất, lãng mạn nhất của con người. Ước mơ bay đã làm cho trái đất thăng hoa, cõi trần cất cánh. Khinh khí cầu, máy bay, vệ tinh, tàu vũ trụ…, chính là những phiên bản mới của ước mơ bay trên cánh diều tuổi thơ có từ vạn năm thuở trước! Cánh diều Việt Nam, là một trong những biểu tượng độc đáo của Văn minh sông Hồng, văn minh lúa nước. Trên đôi cánh mong manh, trầm bổng tiếng sáo trúc hiền hòa, thân thương ấy là tình người, hồn quê là ca dao, cổ tích là tâm linh, tín ngưỡng và cả những buồn vui của một dân tộc, một đất nước nghìn năm văn hiến, bốn mùa mây trắng, trăng thanh bên bờ biển Đông nồm nam lộng gió cánh diều. Loại diều truyền thống cổ nhất của Việt Nam là diều cánh roi, hình hạt lúa. Diều Hạt Lúa được buông, thả trên bầu trời như những mong ước một vụ mùa bội thu, như gửi lòng biết ơn đến Thần Nông, vị thần gần gũi với nông gia. Những lễ hội diều truyền thống Các tỉnh phía Bắc hiện vẫn còn lưu dấu những Lễ hội diều truyền thống như ở Thái Bình, Nam Định, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Phòng, Hà Nội…Trong đó, đáng kể nhất là Lễ hội diều Thiên Cầm-Đông Thanh, Bá Dương Nội-Đan Phượng, Song Vân-Hiệp Hòa, Sáo Đền-Quí Sơn… Lễ hội diều truyền thống lâu đời nhất miền Bắc được tổ chức đều đặn vào ngày 15 tháng 3 âm lịch hàng năm diễn ra ở làng Bá Dương Nội, xã Hồng Hà, huyện Đan Phượng, thủ đô Hà Nội. Ở làng Bá Dương Nội, hầu như ai cũng biết làm diều. Lúc nông nhàn, người ta làm diều ngay trước hiên nhà hoặc nơi sân đình, bến nước. Những con diều tham gia dự thi lễ hội này được chế tác hoàn toàn thủ công, cõng sáo bộ 2 hoặc bộ 3. Diều sáo Bá Dương Nội có ba loại diều cánh mộc, diều cánh chanh và diều cánh muỗm. Sáu mươi cánh diều ưng ý nhất được tuyển chọn dự thi trong lễ hội diều Bá Dương Nội, tượng trưng cho sáu mươi năm cuộc đời, cho chu kỳ chuyển dịch của vũ trụ, cùng thả trên bầu trời niềm hy vọng giản dị, khôn nguôi về một cuộc sống yên bình, hạnh phúc. Lễ hội diều sáo Đền ở thôn Quí Sơn, xã Song An, Vũ Thư, tỉnh Thái Bình diễn ra từ ngày 20 đến ngày 27 tháng 3 âm lịch mỗi năm là lễ hội diều truyền thống dài ngày nhất, hoành tráng nhất vùng hạ lưu sông Hồng. Hội diều sáo Đền từ ngọn nguồn một câu chuyện đậm chất sử thi, huyền thoại. Hội diều sáo Đền hơn 500 năm nay, không chỉ là cuộc chơi dân dã mà còn là một phần quan trọng trong đời sống tâm linh của người dân quê lúa. Lễ hội diều sáo Đền diễn ra ở đền thờ hoàng thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao. Bà Ngô Thị Ngọc Dao là cháu ngoại quốc công Đinh Lễ, vợ vua Lê Thái Tông, mẹ vua Lê Thánh Tông. Năm 1471, Lê Thánh Tông cho xây đền An Lão để mẹ tụng kinh, niệm phật, vui thú tuổi già. Khi mới khánh thành, đền này được đặt tên là Đốc Hỗ. Sau khi bà Ngô Thị Ngọc Dao mất, Lê Thánh Tôn đổi Đốc Hỗ thành Quốc Mẫu, thánh chỉ nơi đây thành nơi thờ cúng mẹ vua. Ngày chính của Lễ hội diều sáo Đền cũng chính là ngày mất của bà Ngô Thị Ngọc Dao. Cùng với việc cúng giỗ Quốc Mẫu, hội thả diều như một nghĩa cử của người dân tưởng nhớ đến Tam quốc công là Đinh Lễ, Đinh Bồ, Đinh Liệt cùng với các tướng sỹ có công phù tá triều Lê, đồng thời cũng là những mục đồng tuổi thơ diều sáo. Lễ hội diều sáo Đền chỉ có một giải thưởng duy nhất với những tiêu chí và thể lệ chấm thi cực kỳ nghiêm ngặt. Trên bãi cỏ diễn ra cuộc thi, người ta dựng 2 cây sào tre thẳng tắp cắm 2 lưỡi mác bén ngọt, cách nhau 50m. Những diều dự thi không đảm bảo kỹ thuật, bị đảo gió, chao ngang, lập tức lưỡi mác cắt dây và đương nhiên bị loại. Diều thắng cuộc phải là con diều đẹp, cân xứng, kéo được trên trăm sải dây buông, tiếng sáo du dương, ngọt ngào, êm dịu, vang xa và đậu ở lưng chừng trời suốt 7 ngày đêm của lễ hội. Công nghệ chế tác diều và sáo Diều Việt truyền thống được chế tác trong không gian thư thái, tràn ngập đam mê, lung linh mỹ cảm, chứa chan khát vọng cùng với những trải nghiệm quê mùa chân thành, chất phác. Một con diều truyền thống gồm hai phần riêng biệt Thân diều và bộ sáo. Thân diều được hình thành qua 2 công đoạn, dựng khung và lợp diều. Khung diều được chẻ, vót, chuốt…, từ cây tre hóp đực, dày cật, thẳng dóng, mọc giữa bụi. Để cho khung diều nhẹ, dẻo, bền, đàn hồi, không mối mọt, người ta luộc kỹ những dóng tre hóp trong nước vôi pha muối. Dựng khung diều theo trình tự Đầu diều, tai diều, đuôi diều, tim diều và lên dây cung. Khung diều phải cân xứng giữa hai cánh, bụng và đuôi để diều không bị đảo, bay được cao. Lợp diều bằng giấy gió còn gọi là giấy bản với chất dính là nhựa sung già hoặc hồ nếp. Sau đó, màu diều được nhuộm vàng, nâu hoặc cánh gián. Diều truyền thống phổ biến nhất là diều cánh roi, diều cánh cốc còn gọi là diều cánh tiên, diều mặt nguyệt, diều bướm, diều chú Tễu… Nếu như thân diều thể hiện hình hài, nhan sắc thì sáo diều phát lộ âm thanh giai điệu. Mỗi thân diều đều cõng theo một bộ sáo tương xứng. Có thể ví diều và sáo như một cặp tình nhân, nếu cọc cạch, lệch pha thì không thể bay bổng, đồng hành trong gió. Sáo diều truyền thống có ba loại, sáo Bi còn gọi là sáo đơn, sáo Kép còn gọi là sáo chị em và sáo Ba còn gọi là sáo con khóc mẹ ru. Sau này, các nghệ nhân sáng tạo thêm sáo bộ 5, bộ 7, bộ 9. Hiện đang giữ kỷ lục Guinness Việt Nam là bộ sáo 13 ống của Câu lạc bộ diều sáo Kiến Thụy-Hải Phòng. Những vương quốc sáo diều nổi tiếng hiện nay là Bách Thuận-Thái Bình, Đường Sơn-Bắc Giang, Thủy Nguyên-Hải Phòng…Sáo diều truyền thống được chế tác từ tre, gỗ và sơn ta. Ống sáo được tuyển từ những gióng trúc già lũa đã chết róc trong bụi, hoặc tre kiến 10 tuổi, cắt thành từng đoạn dài, ngắn khác nhau tùy theo tiêu chí từng bộ sáo. Đoạn giữa ống trúc giữ nguyên cật, đục thông một lỗ vuông chính giữa và vuông góc với thân ống. Cách đều 2 đầu ống tiện 2 rãnh sâu chừng 1mm, lột bì trúc rồi chuốt sạch, xử lý chống mối mọt. Miệng sáo, vách ngăn được làm bằng lõi gỗ thị, gỗ mít hoặc gỗ vàng tâm. Đó là những loại gỗ mềm, nhẵn thớ, dễ gọt. Khó nhất trong công đoạn chế miệng sáo là khâu mổ lỗ, căn vách. Sau cùng là gắn miệng sáo, vách ngăn vào ống sáo bằng sơn ta. Một bộ sáo có bè nhạc hay, âm sắc hư ảo, réo rắt, đặc tả tròn vành “tiếng mẹ”, “tiếng con”, đòi hỏi bàn tay nghệ nhân phải khéo léo, tinh tế từ khâu chọn tre, chọn gỗ, tạo vách, khoét miệng… Muốn thanh âm tiếng sáo vang xa, nghiền thủy tinh thành bột, trộn sơn hoặc keo, quét đều trong lòng ống sáo. Một bộ sáo truyền thống âm sắc phải nhu nhuận, chuẩn theo cung bậc Cồng, còi, go, gí, gộ. Với chủ đề “Khám phá văn minh sông Hồng” tại Trung tâm triển lãm Văn hóa nghệ thuật Việt Nam, số 2 Hoa Lư-Hà Nội, từ ngày 21 đến ngày 24 tháng 11 năm 2012, Câu lạc bộ diều sáo Việt Nam cùng câu lạc bộ sáo diều các tỉnh trong cả nước, lần đầu tiên đã giới thiệu được một số sản phẩm nghệ thuật sáo diều truyền thống và đương đại của Việt Nam, gồm 50 kiểu sáo bộ và hàng trăm mẫu diều phá cách. Bầu trời diều Việt ba miền Festival diều quốc tế Vũng Tàu, góp thêm gam màu khác lạ cho cánh diều phương Đông. Liên hoan diều quốc tế lần thứ 21 năm 2012, diễn ra 9 ngày tại thành phố Berck thuộc miền Bắc nước Pháp với chủ đề “Vũ điệu hòa bình” đã thành công ngoài mong đợi, chứng tỏ nhân loại vẫn luôn chấp chới say mê, ngưỡng mộ những sản phẩm văn hóa mô phỏng ước mơ bay có từ thời tiền sử. Ở Việt Nam, từ năm 2009 đến nay đã tổ chức 4 lần Festival diều quốc tế tại Vũng Tàu với sự tham gia của 25 nước. Năm 2011, với chủ đề “Chung một bầu trời”, Nhật Bản đã đem diều Rokkaku diều lục giác tham gia Festival diều quốc tế Vũng Tàu, góp thêm gam màu khác lạ cho cánh diều phương Đông. Khoảng 2 thập kỷ nay, từ Bắc vào Nam, phong trào chơi diều nở rộ. Ở Sài Gòn có hàng chục đồng diều tự phát nhờ những mặt bằng qui hoạch treo như Ngã tư Giếng Nước-Hóc Môn, Nguyễn Văn Lượng-Gò Vấp, Kênh Tẻ-Quận 8, chân cầu Thủ Thiêm-Quận 2, ven kênh Nhiêu Lộc-Quận 3, đường Nguyễn Văn Linh-Quận 7 …Người Sài Gòn chơi diều “đa phong cách” vào bất cứ lúc nào. Cứ chiều thứ 7, chủ nhật, nếu trời đẹp là những đồng diều nội đô, ngoại thành lại hoạt động nhộn nhịp chẳng khác gì lễ hội. Dân chơi diều đủ thành phần, lứa tuổi, nam nữ, từ bé mầm non đến bô lão 80, từ dân lao động nghèo đến các đại gia…, thậm chí có gia đình cả vợ chồng con cái cùng tham gia thả diều. Người Sài Gòn thường chơi diều nhập từ Trung Quốc, Đài Loan, Singapore…, với giá bán lẻ từ đến đồng một chiếc, đa phần là loại diều khí động học, diều thể thao Delta 3D, diều đèn les, diều bạch tuộc, diều siêu nhân… Mới đây Câu lạc bộ diều Phượng Hoàng vừa ra mắt con diều bạch tuộc khổng lồ dài 50m, riêng số vải dù lợp cho con diều này hết 500 m2. Dân Sài Gòn đi thả diều chẳng khác gì như đi chơi Gol, cầu lông, tennis, hay đi câu…, cũng đeo túi da đựng diều sành điệu diều công nghiệp được tháo ráp rất gọn nhẹ. Ăn theo trào lưu chơi diều là các dịch vụ mua bán, sửa chữa, trang trí…cho diều, gần đây còn xuất hiện dịch vụ huấn luyện viên thả diều, dịch vụ tư vấn chọn diều, chọn sáo cho những người lần đầu chơi diều, còn bỡ ngỡ. Thuật buông diều cũng như chăm bẵm trẻ con, phải tung tẩy, cương nhu, tránh ngả nghiêng, chao đảo, bay cao nhưng không bay mất…! Dân Huế chơi diều theo cách riêng. Đa phần diều Huế tiếp thu vẻ đẹp quyền quí, cao sang của loại hình diều cung đình triều Nguyễn. Thời vua Đồng Khánh, Bảo Đại, hàng năm đều có Hội diều hoành tráng ở quảng trường Ngọ Môn. Hình hài diều Huế thiên về đặc tả những con vật thuộc hàng tứ linh như long, ly, qui, phụng. Thời hiện đại, diều Huế ảnh hưởng trường phái diều nghệ thuật của Pháp, các nghệ nhân sử dụng vải, sơn dầu, bột luy- mi- nơ để chế tác. Huế đã 9 lần tham gia Liên hoan diều quốc tế và đoạt nhiều giải thưởng. Nhiều nghệ nhân diều Huế nổi tiếng trong nước và thế giới như Đoàn Chước, Ưng Hạng, Nguyễn Văn Bê, Nguyễn Đăng Hoàng… So với Sài Gòn, Huế, bầu trời thủ đô Hà Nội có vẻ vắng cánh diều hơn. Nội thành Hà nội cũng có một số đồng diều tự phát như Khu đô thị Việt Hưng-Quận Long Biên, Mỹ Đình-Quận Cầu Giấy, bờ đê Yên Phụ-Quận Tây Hồ…Sự kiện nổi bật nhất ở thủ đô đầu thế kỷ 21 là Liên hoan nghệ thuật diều Hà Nội ngày 6 tháng 10 năm 2010, nhân dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội, tại quảng trường sân vận động Mỹ Đình, với chủ đề “Hà Nội-Bầu trời hòa bình” đã thu hút sự tham gia của hàng chục câu lạc bộ diều danh tiếng. Những cánh diều bay trên bầu trời Thăng Long-Hà Nội, không chỉ mang theo cùng mây gió những tâm hồn mộng mị, đài tranh, đời thường của người Tràng An mà còn có ý nghĩa thiêng liêng về mảnh đất linh ứng huyền thoại rồng bay. Trong “Năm du lịch quốc gia đồng bằng sông Hồng 2013”, dự kiến sẽ tổ chức Hội thi diều sáo ở bãi biển Quất Lâm, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định để giới thiệu với du khách năm châu về vẻ đẹp riêng của những cánh diều Việt của một đất nước thời nào cũng khát vọng cất cánh, bay xa, bay cao . “Diều lên theo gió, đôi cánh bình yên” Ký ức về một khoảng trời xanh, lững lờ mây trắng, về một cánh đồng thơm mùi cỏ mật Kỷ niệm tuổi thơ của mỗi người Việt Nam bao giờ cũng có cánh diều chao nghiêng những miền ký ức. Ký ức về một khoảng trời xanh, lững lờ mây trắng, về một cánh đồng thơm mùi cỏ mật, về lũy tre vương khói lam chiều, về mái phố rêu phong cổ kính, về dòng sông quanh quẩn làng quê…Và tiếng sáo diều đêm trăng nữa. Sáo diều đêm trăng chợt nghe như thể đàn trời. Gió lẩy đàn trời cho cõi người nửa tỉnh nửa say, quên hết đắng cay, mơ về nơi vô vi cực lạc. Có lẽ trong số những thành tựu văn hóa do con người sáng tạo ra, diều và sáo diều là cặp đôi hình hài và âm thanh hồn nhiên nhất, hiền hòa nhất, gợi cảm nhất. Nó đối lập với súng gươm, thù hận. Nó kết nối vẻ đẹp của đất trời, của nghĩa tình đồng loại. Trên bầu trời, dưới mặt đất hiện nay có hàng trăm kiểu vóc dáng những cánh diều khác nhau với nhiều màu sắc, âm thanh tươi mới, khác lạ, chứng tỏ sự tiến bộ và xu hướng hội nhập của thời đại. Mỗi người đều có quyền lựa chọn cho mình một con diều theo sở thích. Nhưng đã là người Việt thì những chiếc diều cánh roi, hình hạt lúa, lợp giấy gió, màu cánh gián, sáo bộ đôi… luôn hiệu ứng, dư âm một không gian cảm xúc mộc mạc, tinh tế, bay bổng, lắng đọng…trên cánh đồng chiều sau mùa gặt, bờ bãi lúc hoàng hôn, mái phố cổ tiết thu phân, đêm trăng thanh gió mát…, mãi mãi là bóng hình huyền ảo, lãng đãng suốt đường đời từ khi thơ bé đến đầu bạc răng long. Nếu vì lý do nào đó, chiều nay, bạn nhớ diều mà không thể đến đồng diều thì hãy nghe ca khúc “Những cánh diều miền Bắc” của Văn An, do ca sỹ Vân Anh thể hiện. Bạn sẽ được cùng “chiều về, diều lên theo gió. Đôi cánh bình yên…Chiều về, diều vang tiếng sáo. Êm mướt đường tơ…”! SÀI GÒN 2013 NGÔ QUỐC TÚY Cảm ơn tác giả đã gửi bài tới Quê Nhà
diều bay diều lá tre bay lưng trời