Do đó, Tanita đã phát triển chức năng "điểm giấc ngủ" (sleep score) như một chỉ số có thể nắm bắt trạng thái của giấc ngủ bằng cách đo lường toàn diện trạng thái của giấc ngủ dựa trên nhiều dữ liệu nghiên cứu 3). Điều này giúp bạn có thể dễ dàng nắm bắt Nghĩa của từ giấc ngủ trong Tiếng Việt - giac ngu- Nh. Giấc + Chưa tối đã vội đi nằm, Em coi giấc ngủ bằng trăm quan tiền (cd). 1.000+ cụm từ và mẫu câu thường gặp nhất trong tiếng Anh; Tra cứu. Yêu thích 0. Lịch sử . Đọc báo . giấc mộng; giấc mộng hươu; giấc nam 5. Danh sách nghiên cứu viên: CN. Trần Thị Loan, CN. Quyền Vĩnh Tường. Thư ký đề tài: CN. Nguyễn Thanh Hòa. 3. Tóm tắt: Mục tiêu: 1. Mô tả thực trạng về chất lượng giấc ngủ của người bệnh tăng huyết áp đang điều trị tại khoa Tim mạch - Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Nam Nghiên cứu đầu tiên về giấc ngủ và trí nhớ tập trung vào trí nhớ quy nạp (declarative memory), như cây chuối sau vườn nhà lúc còn bé, hay những bài học vỡ lòng. Đây là loại trí nhớ dài hạn, còn được gọi là ký ức (long-term memory), rất quan trọng cho sự thông minh Rất có thể, nếu bạn đã từng vật lộn để đi vào giấc ngủ hoặc không ngủ được, bạn có thể đã tham khảo ý kiến của Tiến sĩ Google về thói quen ngủ của mình Nghiên cứu về giấc ngủ tiết lộ những con sói có thể được xử lý, an ủi như chó. (Ảnh: Pexels / drmakete lab) Các nhà nghiên cứu đã đo điện não đồ khi ngủ của bảy con sói được nuôi bằng tay, được xã hội hóa rộng rãi, sử dụng phương pháp tương tự như đã được 3kjRUy. Mục tiêu Đánh giá chất lượng giấc ngủ cũng như lối sống, hành vi học tập, sinh hoạt của sinh viên trong giai đoạn hiện nay. Đối tượng và phương pháp Đây là một nghiên cứu cắt ngang mô tả tại Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, Thành phố Hồ Chí Minh. Dân số nghiên cứu là các sinh viên hệ bác sĩ đa khoa chính quy, tập trung ở tất cả các lớp từ năm 1 đến năm 6. Những người tham gia đã hoàn thành một cuộc khảo sát ẩn danh dựa trên web bao gồm bảng câu hỏi về giấc ngủ và về hành vi học tập, sinh hoạt của họ. Để đo chất lượng giấc ngủ, chúng tôi đã sử dụng Bảng câu hỏi chất lượng giấc ngủ Pittsburgh PSQI. Kết quả Trong tổng số 4677 sinh viên Y khoa tại Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, có 874 người tham gia cuộc khảo sát của chúng tôi. Hơn một nửa số người tham gia có chất lượng giấc ngủ kém theo thang đo PSQI. Nhiều sinh viên đi ngủ muộn hơn nửa đêm và dành nhiều thời gian cho điện thoại thông minh. Kết luận Nghiên cứu này tiết lộ rằng trong thời gian này, sinh viên của chúng tôi dành thời gian sử dụng điện thoại thông minh nhưng ít tham gia vào các hoạt động thể đi ngủ và thức dậy muộn nhưng chất lượng giấc ngủ phát hiện này có thể quan trọng để đưa ra các khuyến nghị, bao gồm cả việc điều chỉnh lối sống. Discover the world's research25+ million members160+ million publication billion citationsJoin for free vietnam medical journal n02 - DECEMBER - 2021 26 CHẤT LƯỢNG GIẤC NGỦ VÀ THÓI QUEN SINH HOẠT CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y KHOA PHẠM NGỌC THẠCH Trần Đức Sĩ*, Nguyễn Thanh Hiệp* TÓM TẮTMục tiêu Đánh giá chất lượng giấc ngủ cũng như lối sống, hành vi học tập, sinh hoạt của sinh viên trong giai đoạn hiện nay. Đối tượng và phương pháp Đây là một nghiên cứu cắt ngang mô tả tại Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, Thành phố Hồ Chí Minh. Dân số nghiên cứu là các sinh viên hệ bác sĩ đa khoa chính quy, tập trung ở tất cả các lớp từ năm 1 đến năm 6. Những người tham gia đã hoàn thành một cuộc khảo sát ẩn danh dựa trên web bao gồm bảng câu hỏi về giấc ngủ và về hành vi học tập, sinh hoạt của họ. Để đo chất lượng giấc ngủ, chúng tôi đã sử dụng Bảng câu hỏi chất lượng giấc ngủ Pittsburgh PSQI. Kết quả Trong tổng số 4677 sinh viên Y khoa tại Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, có 874 người tham gia cuộc khảo sát của chúng tôi. Hơn một nửa số người tham gia có chất lượng giấc ngủ kém theo thang đo PSQI. Nhiều sinh viên đi ngủ muộn hơn nửa đêm và dành nhiều thời gian cho điện thoại thông minh. Kết luận Nghiên cứu này tiết lộ rằng trong thời gian này, sinh viên của chúng tôi dành thời gian sử dụng điện thoại thông minh nhưng ít tham gia vào các hoạt động thể đi ngủ và thức dậy muộn nhưng chất lượng giấc ngủ phát hiện này có thể quan trọng để đưa ra các khuyến nghị, bao gồm cả việc điều chỉnh lối sống. Từ khóaSinh viên; chất lượng giấc ngủ; PSQI; điện thoại thông minh SUMMARY SLEEP QUALITY DURING COVID-19 SOCIAL DISTANCING IN STUDENTS AT UNIVERSITY OF MEDICINE PHAM NGOC THACH Purpose To assess the sleep quality in students. We also considered the effects of COVID-19 home confinement on sedentary behavior and smartphone use. Materials and method It was a descriptive cross-sectional study at the University of Medicine Pham Ngoc Thach, HCMC, Vietnam. Data was collected in medical students from first to 6th years. Participants completed an anonymous web-based survey that includes questionnaires about sleep and about their physical activity, sedentary behavior and smartphone use. To measure sleep quality, we used the Pittsburgh Sleep Quality Questionnaire Index PSQI. Results Out of 4677 medical students at the University of Medicine Pham Ngoc Thach, 874 participated in our survey. More than half of participants had poor quality of sleep according to PSQI. Many students went to bed later than midnight *Trường ĐHYK Phạm Ngọc Thạch Chịu trách nhệm chính Nguyễn Thanh Hiệp Email nguenthanhhiep Ngày nhận bài 8/10/2021 Ngày phản biện khoa học 5/11/2021 Ngày duyệt bài 15/11/2021 and spent time with smartphones. Conclusion This study revealed that during the COVID-19 outbreak, behaviors changed. Students spent time using the smartphone but less engaging in physical activity. They went to sleep and got up too late but their sleep quality was bad. These findings may be important to make recommendations, including lifestyle modifications. Keywords Students; smartphone; sleep quality; PSQI I. ĐẶT VẤN ĐỀ COVID-19 Coronavirus đang tác động nghiêm trọng đến kinh tế, xã hội toàn thế giới cũng như ảnh hưởng đến sức khỏe và cuộc sống của mỗi người. Từ khi xuất hiện đại dịch, các hoạt động thể chất ngoài trời đã bị giảm thiểu, có những lúc bị đình chỉ, dẫn đến thay đổi hành vi, sinh hoạt, gia tăng sử dụng điện thoại thông minh và thay đổi thói quen ngủ. Do đó, nghiên cứu về tác động của những thay đổi này đối với sức khỏe có thể được coi là một vấn đề cộng đồng mới cần được quan tâm. [2] Nghiên cứu tại Tây Ban Nha, đã chỉ ra những thay đổi trong thói quen vận động và cách sử dụng điện thoại thông minh. Việc sử dụng điện thoại thông minh có thể cải thiện sự cô lập xã hội; tuy nhiên, những hành vi này có thể có ảnh hưởng tiêu cực đến mức độ hoạt động thể chất, hành vi và thói quen ngủ. [4] Việt Nam là một trong những quốc gia tương đối ít bịảnh hưởng bởi Covid-19 nhờ nhiều giải pháp được áp dụng kể từ năm 2019, bao gồm các giai đoạn xã hội xa cách với các mức độ hạn chế khác nhau. Những giải pháp này đã dẫn đến những gián đoạn hoạt động giáo dục đáng kể và nhiều thay đổi về thái độ, hành vi cá nhân ở giới trẻ. Mục đích của nghiên cứu này là ghi nhận một số thay đổi trong sinh hoạt, học tập, hành vi sử dụng điện thoại thông minh và đánh giá chất lượng giấc ngủ của sinh viên trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch. II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Chúng tôi đã thực hiện một nghiên cứu cắt ngang mô tả bằng cách sử dụng bảng câu hỏi tự điền. Đối tượng nghiên cứu là 4677 sinh viên y khoa hệ bác sĩ đa khoa từ năm 1 đến năm 6 trong đó có 118 sinh viên Khoa Y Việt Đức. Chúng tôi đã tối đa hóa cỡ mẫu bằng cách sử dụng lấy mẫu tiện lợi. Một email nội bộ với đường dẫn đến bảng câu hỏi đã được gửi đến TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 509 - THÁNG 12 - SỐ 2 - 2021 27 tất cả sinh viên. Email giải thích mục đích, cách tham gia cuộc khảo sát cùng biểu mẫu chấp thuận tham gia. Mỗi người tài khoản email nội bộ nếu đồng ý cũng chỉ có thể điền vào bảng câu hỏi 1 lần duy nhất. Sinh viên có thể từ chối hoặc rời khỏi cuộc khảo sát bất cứ lúc nào. Chúng tôi không thu thập tên cũng như địa chỉ email của họ trong biểu mẫu. Dữ liệu được thu thập trong khoảng thời gian từ tháng 4 đến tháng 5. Sinh viên của chúng tôi vẫn học trực tuyến thông qua tài khoản nội bộ cá nhân và email của họ và một số hoạt động xã hội vẫn bị hạn chế tại thành phố trong thời gian đó. Để đo chất lượng giấc ngủ, chúng tôi đã sử dụng Bảng câu hỏi chất lượng giấc ngủ Pittsburgh PSQI. PSQI đã được dịch và thử nghiệm tại Việt Nam vào năm 2014 và được khuyến nghị để tầm soát chứng rối loạn giấc ngủ.[1] Học sinh cũng được hỏi về hoạt động thể chất, học tập và việc sử dụng điện thoại thông minh. Họ được yêu cầu nêu tên ba hoạt động hàng ngày chiếm nhiều thời gian của họ nhất và cũng là ba hoạt động ưa thích nhất trên điện thoại thông minh. Thang đo PSQI. Thang đo PSQI bao gồm 7 thành phần. Mỗi phần được cho điểm từ 0 đến 3 điểm; trong đó 0 có nghĩa là không có khó khăn gì liên quan đến giấc ngủ, trong khi điểm càng cao thì vấn đề liên quan đến giấc ngủ càng nặng. Bảy thành phần được liệt kê sau đây 1 Đánh giá chủ quan về chất lượng giấc ngủ từ rất tốt so với rất kém; 2 Tiềm thời giấc ngủ thời gian từ khi đi nằm đến khi ngủ ≤15 phút đến >60 phút; 3 Thời lượng ngủ tổng thời gian ngủ <5 giờ đến ≥7 giờ; 4 Hiệu quả giấc ngủ thời lượng ngủ thật sự so với tổng thời gian trên giường từ<65% đến ≥85% ; 5 Rối loạn giấc ngủ không lần nào trong suốt 1 tháng đến ≥3 lần mỗi tuần; 6 Sử dụng thuốc ngủ không lần nào trong suốt 1 tháng đến ≥3 lần mỗi tuần và 7 Ảnh hưởng hoạt động ban ngày từ không có vấn đề gì cho đến bịảnh hưởng nghiêm trọng. Cộng điểm số của cả 7 cấu phần trong thang điểm sẽ cho ra tổng điểm PSQI có biên độ từ 0 đến 21 điểm. Chất lượng giấc ngủ được đánh giá là tốt nếu tổng điểm PSQI ≤5 và ngược lại.[3] Phân tích số liệu. Dữ liệu được xuất từ biểu mẫu của Google, sau đó được mã hóa và phân tích bằng phần mềm Stata. Một số trường hợp điền không đúng thông tin yêu cầu vào biểu mẫu đã bị loại khỏi phân tích. Các chỉ số và test kiểm được sử dụng trung bình, độ lệch chuẩn SD, Student’s T-test t, tần suất n, phần trăm %, test kiểm Chi bình phương. Chúng tôi cũng dùng tương quan Person r để kiểm định mối quan hệ giữa tổng điểm PSQI và các biến số liên tục khác. III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Trong tổng số 4677 sinh viên Y khoa tại Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, chỉ có 874 người tham gia cuộc khảo sát của chúng tôi; trong đó 29 người đã điền sai vào bảng câu hỏi và bị loại khỏi phân tích PSQI. Đối tượng tham gia đến từ tất cả 6 cấp lớp, từ sinh viên năm 1 đến năm thứ 6; không có sự khác biệt đáng kể về tỉ lệ tham gia giữa các cấp lớp. Tuổi trung bình của sinh viên là 21,0 tuổi và tỷ số giới tính là 0,91 1. Tác động trong sinh hoạt hàng ngày. Ba hoạt động hàng ngày chiếm nhiều thời gian nhất của sinh viên chúng tôi trong giai đoạn được khảo sát là học y khoa 79,15%, tiếp theo là lướt web 65,0% và xem truyền hình hoặc video clip 37,1% biểu đồ 1.Học y khoa Học ngoại ngữ Học kỹ năng mềm Đọc sách/tiểu thuyết Xem tivi, xem phim Lướt web Không làm gì cả Nấu ăn, ăn uống Dọn dẹp nhà cửa Chăm sóc cây, hoa Đi làm thêm Đi chơi với bạn Biểu đồ 1. Các hoạt động chiếm nhiều thời gian hàng ngày nhất của sinh viên Hai hoạt động ưa thích nhất trên điện thoại thông minh là kết nối mạng xã hội 78,9% và trò chuyện/chat 75,3%. Học tập chỉ đứng ở vị trí thứ 3 với 55,3%, không chênh lệch nhiều so với vị trí thứ 4 xem clip giải trí, 53,0% và thứ 5 kiểm tra email, 50,1% biểu đồ 2. Dùng Email Chat/nói chuyện phiếm Sử dụng mạng xã hội Xem clip giải trí Mua hàng online Bán hàng online Xem phim trên mạng Đọc tiểu thuyết/mạng Chơi game Học ngoại ngữ Học y khoa Học các kỹ năng khác Biểu đồ 2. Các hoạt động trên điện thoại thông vietnam medical journal n02 - DECEMBER - 2021 28 minh chiếm nhiều thời gian nhất Hầu như tất cả học sinh của chúng tôi không hút thuốc. Chỉ có 6 học sinh 0,69% hút thuốc với tần suất cụ thể là 1, 2, 3 2 trường hợp, 4 và 7 điếu mỗi ngày. Về mức tiêu thụ cà phê, 77,35% sinh viên uống ít hơn 1 cốc mỗi ngày, 17,16% uống 1 cốc, 5,15% uống 2 hoặc 3 cốc mỗi ngày và 0,34% uống 4 cốc cà phê trở lên mỗi ngày. Mức tiêu thụ chè nước trà cao hơn một chút với tỷ lệ lần lượt là 75,17%, 15,33%, 7,44% và 2,06%. Thói quen ngủ, chất lượng giấc ngủ Chỉ 77,50% sinh viên tự nhận định rằng giấc ngủ của họ là tốt hoặc khá. Trong khi đó, theo PSQI, sinh viên có chất lượng giấc ngủ tốt chỉ chiếm 48,40% với PSQI ≤ 5 điểm. Điểm PSQI trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi là 5,9 +/- SD 2,8. Tất cả bảy cấu phần đều ảnh hưởng có ý nghĩa đến điểm tổng PSQI p ≤0,01; và trong đó 3 yếu tố cao điểm nhất là tiềm thời giấc ngủ, hiệu quả của giấc ngủ và thời lượng ngủ biểu đồ 3. Biểu đồ 3. Phân bố điểm số các cấu phần trong thang điểm Pittsburgh. Tổng thời gian sinh viên của chúng tôi nằm trên giường rất khác nhau, từ 4 đến 17,5 giờ một ngày và thời gian trung bình trên giường là 8,25 giờ +/- SD 1,58. Hơn một nửa số sinh viên 50,18% đi ngủ lúc nửa đêm hoặc muộn hơn. Hơn nữa, 37,00% học sinh ở trên giường 9 giờ / ngày trở lên; và 3,40% thậm chí nằm trên giường 12 giờ / ngày hoặc hơn. Những sinh viên đi ngủ lúc nửa đêm hoặc muộn hơn có điểm PSQI cao hơn, điểm trung bình 5,96 +/- 2,69 so với 5,91 +/- 2,88, nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê p = 0,83. Họ dành ít thời gian trên giường hơn so với những người đi ngủ sớm hơn 7,97 so với 8,52, p <0,001. Tuy nhiên, thời gian ngủ thực không khác nhau thời gian trung bình 7,06 so với 7,00 giờ. Thời gian tiềm thời giấc ngủ cũng giống nhau trung bình 24,33 so với 24,31 phút. Một sự khác biệt khác là những sinh viên đi ngủ muộn có hiệu quả ngủ cao hơn so với những sinh viên khác 87,72 so với 83,61%, p <0,001 Chất lượng giấc ngủ và một số liên quan khác. Ngoài sự liên quan đến các thói quen đi ngủ, có mối liên quan đáng kể giữa chất lượng giấc ngủ không tốt và việc uống 1 cốc cà phê hàng ngày hoặc hơn K2 = 2,15, p = 0,01. Đối với chè trà, mối liên quan không có ý nghĩa thống kê với điểm cắt bằng 1 nhưng ở mức uống 2 cốc mỗi ngày trở lên K2 = 1,51, p = 0,01. IV. BÀN LUẬN Kết quả nghiên cứu đã minh họa một số tác động của đại dịch COVID-19. Chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu về khía cạnh hành vi cá nhân liên quan đến giấc ngủ của các sinh viên. Dân số nghiên cứu không thể đại diện cho tất cả người Việt Nam nhưng đây là thông tin quý giá cho các giải pháp thích ứng trong tương lấy mẫu thuận tiên, nhưng cỡ mẫu của nghiên cứu này rất lớn, đồng nhất và công cụ đánh giá chất lượng giấc ngủ đã được sử dụng nhiều nơi, kể cảở Việt Nam. Tỷ lệ trả lời trong các khảo sát dựa trên mạng Internet thường rất thấp nhưng trong nghiên cứu này, có đến 18,69% sinh viên đã tham gia. Điều này cho phép chúng tôi có được một mẫu nghiên cứu lớn. Việc sử dụng email nội bộ thường xuyên để học tập trong thời gian này có lẽ đã giúp sinh viên không bỏ sót email mời tham gia khảo sát. Tác động trong sinh hoạt hàng ngày. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng một số thói quen cá nhân đã thay đổi do dịch COVID-19. Ở Tây Ban Nha, nhiều hoạt động thể chất đã bị đình chỉ trong giai đoạn giãn cách xã hội [8].Ở Iran, sinh viên chủ yếu thích trò chơi điện thoại di động và máy tính 30,1%, tiếp theo là học tập 26,6% và xem tivi 13,8% [6]. Theo trả lời của sinh viên chúng tôi hoạt động chiếm nhiều thời gian nhất trong giai đoạn được khảo sát là học y khoa 79,15%, kế đến mới là các hoạt động giải trí khác. Để có kết quả trên chúng tôi đã yêu cầu những người tham gia liệt kê ba hoạt động chiếm nhiều thời gian nhất của họ. Cách tiếp cận này giúp các hoạt động không bị che lấp lẫn nhau như khi người trả lời khảo sát phải lựa chọn chỉ một trả lời duy nhất. Sinh viên của chúng tôi được yêu cầu theo dõi các bài học trong tình hình giãn cách tương đối. Các lớp học trực tuyến với tương tác thời gian thực đi kem với các video clip bài giảng được cung cấp sẵn đa số là bài thuyết trình TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 509 - THÁNG 12 - SỐ 2 - 2021 29 Powerpoint có lồng tiếng. Các sinh viên phải sử dụng máy tính xách tay hoặc điện thoại thông minh để hoàn thành các buổi học và điều này có lẽ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng các ứng dụng khác. Khi chỉ khảo sát riêng về hoạt động trên điện thoại thông minh, chúng tôi cũng nhận thấy rằng sinh viên sử dụng điện thoại thông minh để kết nối với mạng xã hội và trò chuyện nhiều hơn là học y khoa. Kết quả này có thể xác nhận sự nghi ngờ của chúng tôi. Các giả thuyết khác có thể là học viên có thể đọc sách giáo trình hoặc do điện thoại thông minh có thể ít thoải mái hơn cho việc học trực tuyến so với các phương tiện khác. Thói quen ngủ, chất lượng giấc ngủ. Giấc ngủ có tác động lớn đến sức khỏe tổng thể của một cá những năm qua, rối loạn giấc ngủ đã trở thành một vấn đề sức khỏe cộng đồng ngày càng dù rối loạn giấc ngủ xảy ra thường xuyên hơn ở người lớn tuổi, người trưởng thành trẻ cũng có nhiều yếu tố nguy cơ như khối lượng công việc, học tập và việc sử dụng rộng rãi các phương tiện điện tử. Cùng với tình hình giãn cách xã hội, những điều này có thể dẫn đến rối loạn giấc ngủ nhiều hơn. Hơn một nửa số người tham gia khảo sát của chúng tôi có chất lượng giấc ngủ kém theo thang điểm PSQI. Trong số 7 cấu phần của PSQI, các yếu tốảnh hưởng nhiều nhất là thời gian tiềm thời giấc ngủ, hiệu quả của giấc ngủ và thời lượng ngủ. Romero-Blanco C. và cs. đã tìm thấy một kết quả tương tự trong một nghiên cứu trên sinh viên ngành điều dưỡng.[7] Kết quả của họ cho thấy điểm PSQI của sinh viên đã tăng khoảng 1 điểm 5,5 lên 6,4 và thời gian trên giường kéo dài thêm 1 giờ 7,6 lên 8,5 trong thời gian giãn cách ở Tây Ban Nha.[7] Thời gian ở trên giường trung bình của sinh viên của chúng tôi cũng tương tự 8,6, trong đó 37,0% ở trên giường từ 9 giờ trở lên mỗi đêm và 3,4% sinh viên của chúng tôi ở trên giường từ 12 giờ trở lên. Một kết quả khác ở Iran cho thấy có đến 53,5% ở trên giường từ 9 giờ trở lên. [6] Cuộc khảo sát của chúng tôi được thực hiện khi việc giãn cách xã hội chưa quá nặng nề; nhưng sinh viên vẫn không phải đi học tập trung nên họ có thể ngủ nướng, trì hoãn thời điểm rời khỏi giường; một số đi ngủ muộn, số khác có thể lên giường sớm do không thể ra khỏi nhà. Đó có thể là lý do cho sự tăng điểm trung bình của 2 yếu tố tiềm thời giấc ngủ thời gian từ lúc đi nằm đến lúc đi vào giấc ngủ và hiệu quả giấc ngủtỉ lệ % giữa thời gian ngủ trên thời gian nằm trên giường từ đó làm tăng điểm tổng của thang điểm PSQI. Điều này có thể giải thích sự thiếu tương đồng giữa phân loại rối loạn giấc ngủtheo thang điểm PSQI và sự tự đánh giá của sinh viên. Dù vậy vẫn có đến 22,50% sinh viên tự xếp loại chất lượng giấc ngủ của họ tương đối kém hoặc rất kém. Trong giai đoạn khảo sát, sinh viên vẫn phải hoàn thành các bài học trực tuyến và không thể ngủ quá lâu. Ngay cả đối với những người thức rất khuya đến sáng thì cũng không thểở mãi trên giường. Điều đó có thể lý giải cho sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về thời gian ngủ và hiệu quả giấc ngủ giữa 2 nhóm sinh viên đi ngủ sớm so với nhóm đi ngủ muộn trong kết quả nghiên cứu của chúng nữa dù đóng góp nhiều vào tổng điểm, nhưng đa phần các trường hợp nằm ở mức 1 điểm tương đối tốt, ít trường hợp có kết quả rất tốt hoặc tương đối kém, không có trường hợp rất kém. Việc sử dụng cà phê và trà đá nước chè là một phần văn hóa của giới trẻ thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên việc sử dụng nhiều lần mỗi ngày hoặc quá đều đặn có thể liên quan đến chất lượng. Điều này có thể là do tác dụng kích thích gây tỉnh thức của các loại thức uống này. Một nghiên cứu cho thấy dù chỉ chứa một lượng caffeine thấp, nhưng việc tiêu thụ trà lâu ngày cũng có thể đưa đến những tác động kích thích sự tỉnh thức tương tự như cà phê.[5] Một giả thuyết khác là việc sử dụng các thức uống này có thể là do stress, một yếu tố cũng có thể liên quan đến chất lượng giấc ngủ. Trong nghiên cứu này chúng tôi không đi sâu vào phân biệt các yếu tố này. V. KẾT LUẬN Khảo sát đã cho thấy ngoài việc học tập, sinh viên của chúng tôi dành nhiều thời gian cho một số hoạt động trên điện thoại thông minh. Họ đi ngủ trễ và ở trên giường lâu hơn nhưng chất lượng giấc ngủ phát hiện này có thể quan trọng để đưa ra các khuyến nghị, bao gồm cả việc điều chỉnh lối sống. Tác động của việc giãn cách, học tập tại nhà trong đại dịch COVID-19 có lẽ liên quan đến thói quen ngủ, các hoạt động với điện thoại thông minh và chất lượng giấc ngủ của sinh viên. Ngoài ra cần có thêm một số nghiên cứu mở rộng để kiểm chứng một số giả thuyết được nêu trên đây. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Tô Minh Ngọc, Nguyễn Đỗ Nguyên, Phùng Khánh Lâm, Nguyễn Xuân Bích Huyên, Trần Thị Xuân Lan. Thang đo chất lượng giấc ngủ Pittsburgh phiên bản tiếng Việt. Y Học TP. Hồ Chí vietnam medical journal n02 - DECEMBER - 2021 30 Minh. 2014; 6 S18 664 - 668. 2. Altena E, Baglioni C, Espie C, et al. Dealing with Sleep Problems During Home Confinement Due to the Covid-19 Outbreak Practical Recommendations from A Task Force of the European CBT-I Academy. J. Sleep Res. 2020 Aug; 294 e13052. doi 3. Daniel Charles Timothy Susan David The Pittsburgh sleep quality index A new instrument for psychiatric practice and research, Psychiatry Research. 1989; 282 193-213. 4. Grimaldi-Puyana, Moisés; Fernández-Batanero, José M.; Fennell, Curtis; Sañudo, Borja. 2020. Associations of Objectively-Assessed Smartphone Use with Physical Activity, Sedentary Behavior, Mood, and Sleep Quality in Young Adults A Cross-Sectional Study Int. J. Environ. Res. Public Health 1710 3499. ijerph17103499 5. Hindmarch I, Rigney U, Stanley N, Quinlan P, Rycroft J, Lane J. A naturalistic investigation of the effects of day-long consumption of tea, coffee and water on alertness, sleep onset and sleep quality. Psychopharmacology Berl. 2000 Apr; 1493 203-16. doi PMID 10823400. 6. Ranjbar K, Hosseinpour H, Shahriarirad R, et al. Students' attitude and sleep pattern during school closure following COVID-19 pandemic quarantine a web-based survey in south of Iran. Environ Health Prev Med. 2021 Mar 10; 26133. doi s12199-021-00950-4. 7. Romero-Blanco C, Rodríguez-Almagro J, Onieva-Zafra MD, et al. Sleep Pattern Changes in Nursing Students during the COVID-19 Lockdown. Int J Environ Res Public Health. 2020 Jul 20; 1714 5222. doi 8. Sañudo B, Fennell C, Sánchez-Oliver AJ, et al. Objectively Assessed Physical Activity, Sedentary Behavior, Smartphone Use, and Sleep Patterns Pre- and during COVID-19 Quarantine in Young Adults from Spain. Sustainability. 2020; 1215 5890. ĐÁNH GIÁ ĐỘC TÍNH CẤP TÍNH CỦA CAO CHIẾT HẠT CÀ PHÊ XANH VIỆT NAM TRÊN ĐỘNG VẬT THỰC NGHIỆM Lê Văn Quân1, Cấn Văn Mão1, Nguyễn Việt Nam2, Nguyễn Trọng Nghĩa2 TÓM TẮTMục tiêu Đánh giá độc tính cấp tính của cao chiết hạt cà phê xanh Việt Nam trên chuột nhắt trắng. Phương pháp Độc tính cấp tính được đánh giá qua 2 pha Pha dò liều và pha đánh giá. Pha dò liều được thực hiện với mỗi liều 2 chuột nhắt để tìm ra liều gây chết 1 trong 2 chuột. Pha đánh giá được thực hiện nhằm xác định liều LD50 với các liều lấy cơ sở từ pha dò liều. Các dấu hiệu nhiễm độc của chuột hoặc chuột chết ở cả hai pha đều được theo dõi trong 72 giờ sau khi uống cao chiết hạt cà phê xanh. Kết quả Ở pha dò liều với liều 5000mg/kg vẫn không làm chết 1 trong 2 chuột được thử nghiệm. Ở pha đánh giá, trong 72 giờ theo dõi, không thấy có dấu hiệu nhiễm độc ở chuột và không có chuột chết, trọng lượng chuột không bị giảm, hình ảnh vi thể của gan và thận của chuột hoàn toàn bình thường ở tất cả các liều cao chiết thử nghiệm là 500mg/kg, 1000mg/kg, 2000mg/kg và 5000mg/kg. Kết luận Cao chiết hạt cà phê xanh là an toàn. Liệu độc tính LD50 của cao chiết hạt cà phê xanh là lớn hơn 5000mg/kg. Từ khóaĐộc tính cấp tính, cao chiết hạt cà phê xanh Việt Nam, chuột nhắt. 1Học viện Quân y 2Bệnh viện TƯQĐ 108 Chịu trách nhiệm chính Lê Văn Quân Email levanquan2002 Ngày nhận bài 15/9/2021 Ngày phản biện khoa học 5/10/2021 Ngày duyệt bài 2/11/2021 SUMMARY ACUTE TOXICITY OF THE VIETNEM GREEN COFFEE BEAN EXTRACT IN EXPERIMENTAL ANIMALS Objective To assses acute toxicity of the Vietnam green coffee bean extract in mice. Methods The acute toxicity of the product was evaluated through 2 phases limited test and main test. In the limited test, 2 animals were administrated for each dose in series doses to find the dose in which 01 of 2 animals dead. From this dose, in the main test, series doses were contributed to series animal groups to measure LD50. Toxic symptoms or deaths in amimals were observed within 72 hours. Results In the limited test, at dose 5000mg/kg, both animals were not dead with 72 hours. In the main test, within 72 hours, toxic symptoms or deaths in animals were not found. Body weights of all animals were not decreased. Histological images of livers and kidneys in all animals were normal at all series doses including 500mg/kg, 1000mg/kg, 2000mg/kg and 5000mg/kg. Conclusion The Vietnam green coffee bean extracts, LD50 of this product was higher than 5000mg/kg. Keywords Acute toxicity, Vietnam green coffee bean extract, mice I. ĐẶT VẤN ĐỀ Béo phì, rối loạn chuyển hóa lipid đang có xu hướng tăng, đặc biệt là ở các nước đang phát triển và phát triển. Tại Mỹ, theo ước tính có khoảng hơn 100 triệu người Mỹ, chiếm khoảng ResearchGate has not been able to resolve any citations for this School closure is one of the main policies of global health care strategies performed worldwide. Despite all benefits, there might be some threats for younger groups spending their time in quarantine. This study aims to determine the impacts of lockdown and school closure on children’s major lifestyle aspects, especially their leisure and sleep pattern during the COVID-19 pandemic. Methods For the purpose of this study, an online questionnaire was distributed from 14th to 31st of March 2020 among the schools and students from the first grade to the 12th grade before university in Fars province, southern Iran. The questionnaire consisted of five sections which included data regarding the students’ general information, activity priorities, adherence to quarantine, attitude toward school closure, and sleep patterns. Results In our study, 20,697 filled questionnaires were received from the participants with an average age of years; of them were male, were from urban areas, and were from public schools. The overall first preference of students during school closure was mobile and computer games followed by studying and watching television Our results demonstrated that the majority of students adhered to social distancing and there was also a significant correlation among education levels and desire for schools to be closed till the end of the semester P = Also, regarding sleep patterns, the majority had above 12 h of sleep throughout the day. Conclusion It seems that lockdown following COVID-19 pandemic has changed various aspects of the students’ lifestyle remarkably, especially by increasing screen time and even sleep duration and pattern. We believe that certain strategies should be implemented by the Health and Educational Ministry to control not only the visible side effects of the quarantine period, but also the collateral consequences on their psychological and mental study assessed the effects of COVID-19 home confinement on physical activity, sedentary behavior, smartphone use, and sleep patterns. Data was collected in a sample of 20 young adults mean age ± SD ± years; 55% males over seven days pre- and during the COVID-19 lockdown. Objective and subjective physical activity Accelerometer and the International Physical Activity Questionnaire IPAQ, respectively, the number of hours sitting IPAQ, objectively-measured smartphone use smartphone screen time applications, and objective and subjective sleep accelerometer and the Pittsburgh Sleep Quality Index, respectively were assessed. Results revealed significantly greater walking time and mean steps p < d = to and moderate and vigorous physical activity p < d = to in the pre- compared with the during-COVID-19 lockdown phase. Additionally, smartphone use p = d = sitting time p = d = and total sleep p < d = were significantly greater in the during- compared with the pre-COVID-19 lockdown phase. Multiple regressions analyses showed associations between physical activity and sedentary behavior and sleep quality. The number of hours sitting per day and moderate-to-vigorous physical activity significantly predicted deep sleep = In conclusion, this study revealed that during the COVID-19 outbreak, behaviors changed, with participants spending less time engaging in physical activity, sitting more, spending more time using the smartphone, and sleeping more hours. These findings may be of importance to make recommendations, including lifestyle modifications during this prevalence of poor sleep quality among students is very high and, in nursing students, has been associated with reduced performance, behavioral changes, dietary changes, and even aggressive behavior due to changes in sleep patterns. The lockdown in response to COVID-19 may have resulted in lifestyle changes that affected sleep quality. For this reason, the objective of this study is to determine the difference in nursing students' sleep quality before and during the lockdown, put in place in response to the coronavirus COVID-19 pandemic. To meet this objective, we conducted a longitudinal observational study on 207 nursing students, with two cutoff points February and April. The main dependent variable was sleep quality, measured using the Pittsburgh sleep quality index PSQI and its seven components. Parametric and nonparametric tests were used for paired and unpaired data, as well as group-stratified analysis. The mean time students spent in bed was h standard deviation SD = h before lockdown and h SD = h during lockdown. The PSQI score got points worse during lockdown 95% CI, − − Of the five components, five were statistically significantly affected p ≤ and of these, the most changed were sleep latency, sleep duration, and sleep efficiency. When stratified by group, we observed differences in women, first-year students, second-year students, alcohol consumers, those of normal weight, and those that live with family. The main conclusion is that although students spent more time in bed, overall sleep quality was worse during lockdown, as well as being worse in five of the seven the current global home confinement situation due to the COVID‐19 outbreak, most individuals are exposed to an unprecedented stressful situation of unknown duration. This may not only increase daytime stress, anxiety and depression levels but also disrupt sleep. Importantly, because of the fundamental role that sleep plays in emotion regulation, sleep disturbance can have direct consequences upon next day emotional functioning. In this paper we summarize what is known about the stress‐sleep link and confinement as well as effective insomnia treatment. We discuss those effects of the current home confinement situation that can disrupt sleep but also those that could benefit sleep quality. We suggest adaptions of cognitive behavioral therapy elements that are feasible to implement for those facing changed work schedules and requirements, those with health anxiety and those handling childcare and homeschooling, whilst also recognizing the general limitations imposed on physical exercise and social interaction. Managing sleep problems as best as possible during home confinement can limit stress and possibly prevent disruptions of social the prevalence of sleep complaints among psychiatric patients, few questionnaires have been specifically designed to measure sleep quality in clinical populations. The Pittsburgh Sleep Quality Index PSQI is a self-rated questionnaire which assesses sleep quality and disturbances over a 1-month time interval. Nineteen individual items generate seven "component" scores subjective sleep quality, sleep latency, sleep duration, habitual sleep efficiency, sleep disturbances, use of sleeping medication, and daytime dysfunction. The sum of scores for these seven components yields one global score. Clinical and clinimetric properties of the PSQI were assessed over an 18-month period with "good" sleepers healthy subjects, n = 52 and "poor" sleepers depressed patients, n = 54; sleep-disorder patients, n = 62. Acceptable measures of internal homogeneity, consistency test-retest reliability, and validity were obtained. A global PSQI score greater than 5 yielded a diagnostic sensitivity of and specificity of kappa = p less than in distinguishing good and poor sleepers. The clinimetric and clinical properties of the PSQI suggest its utility both in psychiatric clinical practice and research The effects of caffeine, especially caffeinated coffee, on human performance have been extensively studied. However, few studies have been naturalistic representations of how tea/coffee is normally consumed in terms of dose and time of consumption. Objectives This study investigated the effects of day-long consumption of tea, coffee and water on cognitive and psychomotor performance, and sleep quality at night. Methods Thirty healthy volunteers received equal volume drinks equivalent to either 1 or 2 cups of tea containing mg or 75 mg caffeine, or coffee 75 mg or 150 mg caffeine, or water, in a randomised five-way crossover design. Drinks were administered on four occasions during the day 0900, 1300, 1700 and 2300 hours. A psychometric battery consisting of critical flicker fusion CFF, choice reaction time CRT and subjective sedation LARS tests, was administered pre-dose and at frequent time points post-dose. The Leeds Sleep Evaluation Questionnaire LSEQ was completed each morning and a wrist actigraph was worn for the duration of the study. Results Caffeinated beverages maintained CFF threshold over the whole day P< independent of caffeine dose or beverage type. During the acute phase of beverage ingestion, caffeine significantly sustained performance compared to water after the first beverage for CFF and subjective sedation P< and after the second beverage for the Recognition component of the CRT task P< Additionally, there were significant differences between tea and coffee at 75 mg caffeine after the first drink. Compared to coffee, tea produced a significant increase in CFF threshold between 30 and 90 min post-consumption P< However, following the second beverage caffeinated coffee at 75 mg significantly improved reaction time P< compared to tea at the same dose, for the Recognition component of the CRT task. Caffeinated beverages had a dose dependent negative effect on sleep onset P< sleep time P< and sleep quality P< Conclusions These results indicate that ingestion of caffeinated beverages may maintain aspects of cognitive and psychomotor performance throughout the day and evening when caffeinated beverages are administered repeatedly. This study also demonstrates that day-long tea consumption produces similar alerting effects to coffee, despite lower caffeine levels, but is less likely to disrupt sleep. Other differences between tea and coffee were more subtle, and require further investigation. This is a Premium Document. Some documents on Studocu are Premium. Upgrade to Premium to unlock this document helpful?Leave a comment or say thanksThis is a Premium Document. Some documents on Studocu are Premium. Upgrade to Premium to unlock you want full access? Go Premium and unlock all 29 pagesTRƯỜNG ĐH NGOẠI THƯƠNG CƠ SỞ II TẠI NHIỆM VỤ NHÓM MÔN LOGIC HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP HỌC TẬP, NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CHẤT LƯỢNG GIẤC NGỦ VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẤC NGỦ CỦA SINH VIÊN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Nhóm 12 Lớp K60CLC6 Mã lớp 509 Họ và tên nhóm trưởng Phạm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh MSSV 2112153144 Sđt 0932036505 Email – Tháng 10/2021 Why is this page out of focus?This is a Premium document. Become Premium to read the whole is this page out of focus?This is a Premium document. Become Premium to read the whole is this page out of focus?This is a Premium document. Become Premium to read the whole is this page out of focus?This is a Premium document. Become Premium to read the whole is this page out of focus?This is a Premium document. Become Premium to read the whole is this page out of focus?This is a Premium document. Become Premium to read the whole is this page out of focus?This is a Premium document. Become Premium to read the whole is this page out of focus?This is a Premium document. Become Premium to read the whole is this page out of focus?This is a Premium document. Become Premium to read the whole is this page out of focus?This is a Premium document. Become Premium to read the whole is this page out of focus?This is a Premium document. Become Premium to read the whole is this page out of focus?This is a Premium document. Become Premium to read the whole is this page out of focus?This is a Premium document. Become Premium to read the whole is this page out of focus?This is a Premium document. Become Premium to read the whole is this page out of focus?This is a Premium document. Become Premium to read the whole document. IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN1. Đặc điểm của mẫu khảo sátVới 109 người tham gia khảo sát nhóm đã thu được kết quả như sauĐặc điểm Tần số Tần suất %Là sinh viên UEH Phải 105 phải 4 tính Nam 20 85 K45 1 6 4 94 theo chỉ tiêu là sinh viên UEH phần lớn người tham gia khảo sát là sinh viên trường UEH chiếm so với người không phải là sinh viên UEH với 3,67%.Về giới tính phần trăm người có giới tính nữ làm khảo sát nhiều hơn người có giới tính nam với so với niên khóa do cuộc khảo sát chỉ lấy ý kiến của sinh viên UEH nên căn cứ vào đó ta chia ra được 4 khóa hiện nay đang theo học ở trường. Với K45 chỉ có 1 người làm khảo sát nên phần trăm rất thấp khoảng K46 phần trăm cao thứ hai tổng số với K47 chiếm tổng số. Và cuối cùng là K48 chiếm tỷ lệ đông đảo trong cuộc khảo sátdẫn đầu với số phần trăm là Phân tích, xử lí kết quả của dữ liệu Nhận thức về giấc ngủ Mức độ quan tâm của bạn đến giấc ngủ Với sự phát triển của công nghiệp hóa- hiện đại hóa ngày nay nhiều người có thói quen thường xuyên thức khuya. Và đây là một thói quen không hề tốt, để giúp mọi người nhận ra tình trạng giấc ngủ của mình, nhóm 11 đã làm ra bài khảo sát này, nhưng vì mặt hạn chế về phương tiện, địa lí mà nhóm đã giới hạn lại phạm vi dành cho sinh viên UEH và đã khảo sát được 109 người với 105 người là sinh viên UEH Theo như bài khảo sát của nhóm thì có 69 người rất quan tâm đến chấtlượng giấc ngủ của mình, 34 người quan tâm giấc ngủ của mình ở mức bình thường và 2 người không quan tâm đến chất lượng giấc ngủ của mình. Nhiều tình trạng sức khỏe, gây giấc ngủ bất thường, hội chứng chân không yên, béo phì, bệnh tim hoặc hô hấp, suy giáp, trầm cảm Biên tập viên Trần Tiến Phong Đánh giá Trần Trà My, Trần Phương Phương Nhận định chung Nghiên cứu về giấc ngủ là ghi lại những gì xảy ra với cơ thể trong khi ngủ. Các nghiên cứu được thực hiện để tìm hiểu những gì gây ra vấn đề giấc ngủ. Các nghiên cứu về giấc ngủ cũng có thể xác định liệu có vấn đề với các giai đoạn của giấc ngủ hay không. Hai loại giấc ngủ chính là không chuyển động mắt nhanh NREM và chuyển động mắt nhanh REM. Thông thường, NREM và REM thay thế 4 đến 5 lần trong một đêm ngủ. Một sự thay đổi trong chu kỳ này có thể khiến khó ngủ ngon. Các nghiên cứu về giấc ngủ phổ biến nhất là Nghiên cứu giấc ngủ đa thông số. Kiểm tra này ghi lại một số chức năng cơ thể trong khi ngủ, bao gồm hoạt động của não, chuyển động của mắt, nồng độ oxy trong máu và carbon dioxide, nhịp tim và nhịp điệu, nhịp thở và nhịp điệu, luồng không khí qua miệng và mũi, ngáy, cử động cơ bắp và cử động ngực và bụng. Kiểm tra độ trễ giấc ngủ MSLT. Kiểm tra này đo lường mất bao lâu để ngủ. Nó cũng xác định vào giấc ngủ REM. Đánh giá mức độ buồn ngủ ban ngày MWT. Kiểm tra này đo xem có thể tỉnh táo trong suốt thời gian bình thường không. Nếu bác sĩ nghĩ rằng có thể có rối loạn giấc ngủ làm việc theo ca hoặc nhịp sinh học, có thể có một kiểm tra gọi là theo dõi chu kỳ nghỉ ngơi / hoạt động. Đối với kiểm tra này, đeo một thiết bị trên cổ tay trông giống như một chiếc đồng hồ. Thiết bị đo chuyển động trong khi ngủ và khi thức. Nó giúp bác sĩ tìm hiểu thời gian hoạt động trong ngày và thời gian đang ngủ. Nghiên cứu giấc ngủ thường được thực hiện trong phòng kiểm tra ngủ. Nhưng nghiên cứu về giấc ngủ cũng có thể được thực hiện với thiết bị cầm tay sử dụng ở nhà. Chỉ định nghiên cứu về giấc ngủ Các nghiên cứu về giấc ngủ được thực hiện để tìm ra các vấn đề về giấc ngủ, bao gồm Ngưng thở khi ngủ, khi người lớn thường xuyên ngừng thở trong khi ngủ trong 10 giây hoặc lâu hơn. Ngáy quá mức. Vấn đề tỉnh táo, chẳng hạn như chứng ngủ rũ. Các vấn đề với hành vi ban đêm, chẳng hạn như mộng du, kinh hoàng ban đêm, đái dầm hoặc rối loạn hành vi REM RBD. Các tình trạng như rối loạn vận động chân tay định kỳ, đó là lặp đi lặp lại co giật cơ bàn chân, cánh tay hoặc chân trong khi ngủ. Động kinh xảy ra vào ban đêm co giật về đêm. Chuẩn bị nghiên cứu về giấc ngủ Có thể được yêu cầu giữ một cuốn nhật ký giấc ngủ. Trong 1 đến 2 tuần trước khi học về giấc ngủ. Cố gắng tuân theo thói quen ngủ bình thường trong thời gian này để không quá mệt mỏi hoặc nghỉ ngơi cho kiểm tra giấc ngủ. Không được ngủ trưa trong 2 đến 3 ngày trước khi kiểm tra. Hãy cho bác sĩ biết về bất kỳ loại thuốc đang dùng. Có thể được yêu cầu ngừng dùng một số loại thuốc, chẳng hạn như thuốc an thần, trước khi nghiên cứu giấc ngủ. Có thể được yêu cầu tránh thực phẩm hoặc đồ uống có caffeine trong một hoặc hai ngày trước khi kiểm tra. Hãy tắm trước khi thử, nhưng không sử dụng thuốc xịt, dầu hoặc gel trên tóc. Không trang điểm, đánh bóng móng tay, vì một số thiết bị kiểm tra sẽ được đặt trên mặt và ngón tay. Nếu nghiên cứu về giấc ngủ được thực hiện trong phòng kiểm tra về giấc ngủ, hãy đóng gói một túi nhỏ qua đêm với các vật dụng cá nhân, như bàn chải đánh răng, lược, gối hoặc chăn, hoặc một cuốn sách, để mang theo. Không cần phải mặc áo choàng bệnh viện. Có thể mặc quần áo ngủ bình thường. Phòng kiểm tra ngủ có thể gửi cho các biểu mẫu để điền vào trước khi kiểm tra. Sẽ hỏi về thói quen và mô hình giấc ngủ. Cũng có thể bao gồm các câu hỏi cho người ngủ với bạn; Anh ấy hoặc cô ấy có thể nhận thức được thói quen ngủ mà bạn không biết bạn có. Nói chuyện với bác sĩ về bất kỳ mối quan tâm nào về nhu cầu kiểm tra, rủi ro của nó, cách thực hiện hoặc kết quả sẽ có ý nghĩa gì. Thực hiện nghiên cứu về giấc ngủ Nghiên cứu về giấc ngủ thường được thực hiện bởi một kỹ thuật viên phòng kiểm tra giấc ngủ được đào tạo. Các nghiên cứu thường được lên kế hoạch cho buổi tối và giờ đêm 10 giờ tối đến 6 giờ sáng trong phòng kiểm tra ngủ đặc biệt. Nhưng nếu thường ngủ vào ban ngày, kiểm tra sẽ được thực hiện trong những giờ thường ngủ. Sẽ ở trong một phòng riêng, giống như phòng khách sạn. Để theo dõi giấc ngủ, sẽ sử dụng thiết bị tại nhà ghi lại thông tin trong khi ngủ. Sẽ cần phải ở phòng kiểm tra ngủ vài giờ trước khi kiểm tra để kỹ thuật viên có thể chuẩn bị nghiên cứu. Sẽ điền vào một bảng câu hỏi về giấc ngủ đêm hôm trước. Cũng sẽ được yêu cầu điền vào sau khi nghiên cứu về giấc ngủ trong quá trình nghiên cứu. Nghiên cứu đa thông số Các miếng đệm hoặc miếng dán nhỏ gọi là điện cực sẽ được đặt trên đầu và cơ thể với một lượng nhỏ keo và băng dính. Chất keo dễ dàng được rửa sạch sau khi kiểm tra. Các điện cực ghi lại hoạt động của não, chuyển động của mắt, nồng độ oxy trong máu và carbon dioxide, nhịp tim và nhịp điệu, nhịp thở và nhịp điệu, luồng không khí qua miệng và mũi của bạn, lượng ngáy, chuyển động cơ bắp cơ thể, và chuyển động ngực và bụng. Thắt lưng đàn hồi mềm sẽ được đặt xung quanh ngực và bụng để đo nhịp thở. Nồng độ oxy trong máu sẽ được kiểm tra bằng một cái kẹp nhỏ oximet đặt trên đầu ngón tay trỏ hoặc trên dái tai. Các điện cực, dây đai đàn hồi và máy đo oxy được thiết kế sao cho thoải mái nhất có thể và không gây khó ngủ. Khi bắt đầu bài kiểm tra, sẽ được yêu cầu làm những việc như chớp mắt, di chuyển chân và nín thở. Điều này được thực hiện để đảm bảo thiết bị hoạt động chính xác. Thiết bị ghi hình và màn hình video sẽ ghi lại chuyển động và hoạt động trong khi ngủ. Kỹ thuật viên sẽ ở trong một phòng riêng kiểm tra các bản ghi. Nếu bị ngưng thở khi ngủ, có thể đeo mặt nạ được kết nối với máy áp lực đường thở dương liên tục CPAP. Mặt nạ vừa với mũi hoặc trên mũi và miệng. Mặt nạ trên mũi được sử dụng thường xuyên nhất. Máy CPAP cung cấp không khí hoặc thêm oxy. Điều này làm tăng áp suất không khí để đường thở thông thoáng hơn khi hít vào. Khi đã sẵn sàng và thiết bị hoạt động chính xác, đèn sẽ tắt và có thể đi ngủ. Đối với hầu hết các nghiên cứu về đa thông số, sẽ cần dành ít nhất 6 giờ qua đêm trong phòng kiểm tra ngủ. Kiểm tra độ trễ giấc ngủ Nếu kiểm tra độ trễ nhiều giấc ngủ MSLT được thực hiện, sẽ cần ở lại phòng kiểm tra ngủ qua đêm và một phần của ngày hôm sau. Trong kiểm tra này, sẽ ngủ trưa cứ sau 2 giờ bắt đầu vào buổi sáng sau bài kiểm tra giấc ngủ ban đêm. Sẽ được ngủ 20 phút. Nếu ngủ trưa, sẽ thức dậy sau 15 phút. Giữa những giấc ngủ ngắn, cố gắng tỉnh táo. Lượng thời gian cần để ngủ vào giấc ngủ ngắn và các kiểu ngủ trong giấc ngủ ngắn sẽ được ghi lại bằng hầu hết các thiết bị tương tự được sử dụng trong các nghiên cứu về đa thông số. Đánh giá mức độ buồn ngủ ban ngày Nếu đánh giá mức độ buồn ngủ ban ngày được thực hiện, sẽ cần ở lại phòng kiểm tra ngủ qua đêm và một phần của ngày hôm sau. Sẽ cố gắng tỉnh táo mà không ngủ trưa trong ngày. Thông tin sẽ được ghi lại với hầu hết các thiết bị tương tự được sử dụng trong nghiên cứu đa thông số. Theo dõi chu kỳ nghỉ ngơi / hoạt động Nếu theo dõi chu kỳ nghỉ ngơi / hoạt động, bác sĩ sẽ giải thích cách sử dụng thiết bị theo dõi tại nhà. Sẽ cần ngủ với các ống ngắn trong mũi và một chiếc mũ trên ngón tay kết nối với một màn hình nhỏ. Màn hình ghi lại thông tin trong khi ngủ, chẳng hạn như kiểu thở và mức oxy trong máu. Cũng có thể đeo một thiết bị ghi lại âm thanh tạo ra và một dải băng quanh chân để kiểm tra tần suất chân di chuyển trong khi ngủ. Cảm thấy khi nghiên cứu về giấc ngủ Sẽ không cảm thấy đau trong những kiểm tra này. Nó có thể cảm thấy kỳ lạ khi được nối với các thiết bị nghiên cứu giấc ngủ. Kỹ thuật viên phòng kiểm tra giấc ngủ hiểu rằng giấc ngủ có thể không giống như ở nhà vì thiết bị. Cố gắng thư giãn và làm cho bản thân thoải mái nhất có thể. Sau khi kiểm tra, có thể tắm và gội đầu để loại bỏ keo khỏi cơ thể. Dầu xả có thể giúp lấy keo ra khỏi tóc. Rủi ro của nghiên cứu về giấc ngủ Da có thể bị đỏ hoặc ngứa do keo được sử dụng với các điện cực. Không có rủi ro khác với các nghiên cứu về giấc ngủ. Ý nghĩa lâm sàng kết quả kiểm tra Nghiên cứu về giấc ngủ là các kiểm tra ghi lại những gì xảy ra với cơ thể trong khi ngủ để tìm hiểu nguyên nhân gây ra vấn đề giấc ngủ. Nghiên cứu đa thông số PSG kiểm tra hoạt động não, chuyển động của mắt, nồng độ oxy trong máu, nhịp tim và nhịp điệu, nhịp thở và nhịp điệu, luồng không khí qua miệng và mũi, lượng ngáy, cử động cơ bắp và ngực và cử động bụng. Kết quả nghiên cứu giấc ngủ có sẵn trong vòng 1 đến 2 tuần. Nghiên cứu giấc ngủ sẽ được đọc bởi một chuyên gia về giấc ngủ. Bác sĩ có thể xem xét kết quả trong một lần tái khám. Nghiên cứu đa thông số PSG bình thường Hoạt động của não điện não đồ Thời gian ngủ, giai đoạn của giấc ngủ NREM và REM và thời gian thức là bình thường. Không có hoạt động não bất thường như một cơn động kinh được ghi nhận. Chuyển động của mắt điện não đồ, hoặc EOG Chuyển động mắt chậm có mặt khi bắt đầu giấc ngủ và chuyển sang chuyển động mắt nhanh trong khi ngủ REM. Chuyển động cơ bắp điện cơ đồ, hoặc EMG Không có giật chân hoặc chuyển động cơ bất thường khác. Mức oxy trong máu O2 Nồng độ O2 trong máu lớn hơn 90%. Nhịp tim EKG, ECG Nhịp tim và nhịp bình thường. Không có thay đổi nhịp tim rối loạn nhịp tim, chẳng hạn như nhịp tim chậm hoặc nhanh bất thường, được ghi nhận. Nỗ lực thở chỉ số rối loạn hô hấp, hoặc RDI Không có luồng không khí giảm hypopnea hoặc luồng không khí bị chặn ngưng thở đến phổi được tìm thấy. Chuyển động của ngực và bụng Ngực và bụng di chuyển bình thường trong suốt nghiên cứu. Âm thanh và hình ảnh Giấc ngủ được nghỉ ngơi và không bị xáo trộn. Khủng hoảng ban đêm, mộng du và nói chuyện trong giấc ngủ không xảy ra. Ngáy Ngáy quá mức hoặc kiểu ngáy bất thường không có mặt. Luồng khí Luồng khí qua miệng và mũi không bị chặn. Độ trễ giấc ngủ MSLT bình thường Bắt đầu ngủ Mất 10 đến 20 phút để ngủ là bình thường. Mức độ buồn ngủ ban ngày MWT bình thường Bắt đầu ngủ Thức khoảng 40 phút là bình thường. Giá trị bất thường Đối với phép đo đa thông số, việc giảm hoặc chặn luồng không khí vào phổi giá trị RDI xảy ra hơn 5 lần trong 1 giờ có thể có nghĩa là bị ngưng thở khi ngủ. Đối với kiểm tra độ trễ giấc ngủ MSLT, mất trung bình từ 5 đến 10 phút để đi vào giấc ngủ có nghĩa là bị buồn ngủ ban ngày nhẹ đến trung bình. Trung bình ít hơn 5 phút để ngủ có nghĩa là bị buồn ngủ ban ngày nghiêm trọng. Trung bình ít hơn 8 phút để ngủ cùng với 2 hoặc nhiều chuyển động mắt nhanh hơn REM trong 5 đến 6 giấc ngủ ngắn có nghĩa là có thể bị chứng ngủ rũ. Đối với mức độ buồn ngủ ban ngày MWT, ngủ thiếp đi trong vòng chưa đầy 40 phút được coi là bất thường. Điều này có nghĩa là bị buồn ngủ ban ngày nghiêm trọng. Những người mắc chứng ngủ rũ cũng có thể có kết quả kiểm tra bất thường. Yếu tố ảnh hưởng đến nghiên cứu về giấc ngủ Những lý do có thể không thể kiểm tra hoặc tại sao kết quả có thể không hữu ích bao gồm những điều sau đây Sử dụng caffeine, nicotine, rượu hoặc thuốc an thần. Có những thay đổi trong hoạt động bình thường vào ngày nghiên cứu giấc ngủ. Các điện cực tắt trong khi ngủ. Tiếng ồn phòng kiểm tra giấc ngủ giúp bạn tỉnh táo hoặc giữ cho ngủ bình thường trong quá trình nghiên cứu giấc ngủ. Điều cần biết thêm Nhiều tình trạng sức khỏe có thể gây ra giấc ngủ bất thường. Chúng bao gồm hội chứng chân không yên, béo phì, bệnh tim hoặc hô hấp, suy giáp, trầm cảm và các bệnh về thần kinh cơ như bệnh Parkinson. Nghiên cứu đa thông số thứ hai có thể cần thiết nếu không thể ngủ đủ lâu để kiểm tra. Ngoài ra, sau khi vấn đề về giấc ngủ đã được xác định, có thể cần một nghiên cứu thứ hai nếu bác sĩ yêu cầu điều trị như áp lực đường thở dương liên tục CPAP. Một nghiên cứu đêm chia tách là một loại nghiên cứu giấc ngủ. Trong nửa đầu của đêm, n được kiểm tra ngưng thở khi ngủ. Trong nửa sau của đêm, chứng ngưng thở được điều trị bằng các dụng cụ thở như CPAP để mở đường thở bị chặn. Trong những trường hợp hiếm, kiểm tra pH có thể được thực hiện trong nghiên cứu về giấc ngủ để xem liệu có trào ngược dịch dạ dày vào thực quản hay không. Đối với kiểm tra pH, một dây nhỏ được đặt trong mũi và được dẫn đến phần dưới của thực quản. Sức khỏe Bác sĩ online Thuốc đúng - Thuốc tốt Làm đẹp mỗi ngày Thì thầm bên gối TPO - Một số cặp vợ chồng nhận thấy được lợi ích cho bản thân khi ngủ riêng. Tuy nhiên, việc dành ra khoảng thời gian cách biệt giữa hai lần đi ngủ dường như là chìa khóa cho mối quan hệ lành mạnh và lâu bền hơn. Một nghiên cứu mới được thực hiện bởi công ty nệm Dreams của Anh đã khảo sát hơn người về chất lượng giấc ngủ khi chung phòng với người yêu hoặc vợ/chồng. Kết quả cho thấy hơn 1/4 số người tham gia 27% thừa nhận ngủ ngon hơn khi nằm một mình và 8% cân nhắc việc ngủ riêng giường với bạn đời để có được giấc ngủ ngon hơn. 55% tiết lộ điều khó chịu nhất khi ngủ chung giường là tiếng ngáy của bạn đời. Hơn 50% cho biết có ít nhất một đêm trong tuần không ngủ ngon hoặc bị quấy rầy. Tiếng ngáy của bạn đời là điều khó chịu nhất khi chung giường. Ảnh iStockphoto. Theo chuyên gia về giấc ngủ tại Dreams, thiếu ngủ và căng thẳng có ảnh hưởng nghiêm trọng đến các cặp vợ chồng và cuộc sống gia đình. “Con người dễ tranh cãi hơn khi họ mệt mỏi hoặc căng thẳng bởi tình trạng đó có thể ảnh hưởng đến khả năng kiểm soát cảm xúc, cũng như phản ứng với các tình huống một cách bình tĩnh và hợp lý. Ngoài ra, sự mệt mỏi có thể dẫn đến nhận thông tin sai lệch hoặc gây hiểu lầm. Điều này cũng góp phần nảy sinh tranh cãi”, chuyên gia Sammy Margo giải thích. Tuy nhiên, không phải không có giải pháp cho vấn đề này. Nếu ai thấy bản thân bất đồng với bạn đời về giấc ngủ hoặc bị thiếu ngủ, người đó có thể thử cách đi ngủ trước hoặc sau đối phương khoảng 90 phút. Margo cho biết 90 phút là “thời gian tối ưu” vì nó cho phép một người chìm vào giai đoạn ngủ sâu, không cần lo lắng đến người còn lại đã lên giường hay chưa. “Bằng cách này, bạn vẫn giữ được những lợi ích từ sự thân mật khi ngủ chung giường với bạn đời mà không khó chịu khi phải vật lộn để ngủ bên cạnh họ. Thêm vào đó, cởi mở về điều này cho thấy bạn quan tâm đến đối tác của mình và nhu cầu của họ. Đó không phải là dấu hiệu cho thấy mối quan hệ của bạn đang rạn nứt”, nữ chuyên gia nhấn mạnh. Dù vậy, ngủ riêng không phải xấu. Khoa học đã chứng minh “ly hôn khi ngủ” có lợi cho những cặp đôi có một người bị rối loạn giấc ngủ. “Các nghiên cứu chỉ ra khi một người ngủ chung giường bị rối loạn giấc ngủ, nó có thể ảnh hưởng tiêu cực đến người còn lại. Ví dụ, bạn chung giường có xu hướng thức dậy cùng lúc khi người còn lại mất ngủ. Tương tự, khi hai người có thời gian đi ngủ khác nhau; chẳng hạn như một người là cú đêm, còn người kia lại dậy sớm; những sở thích về giấc ngủ khác nhau có thể tác động tiêu cực đến giấc ngủ của cả hai người”, Tiến sĩ Erin Flynn-Evans, chuyên gia tư vấn của Học viện Y học về Giấc ngủ Mỹ, nói với CBS News. 07/06/2023 06/06/2023 05/06/2023 Theo NY Post Taïp chí “Noäi tieát vaø Ñaùi thaùo ñöôøng” Soá 47 - Naêm 2021 141 KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG GIẤC NGỦ VÀ ỨNG DỤNG CHU KỲ GIẤC NGỦ ĐỐI VỚI SINH VIÊN Y KHOA TRƯỜNG ĐẠI HỌC DUY TÂN Đỗ Thế Bon†, Lê Thị Yến Nhi†, Nguyễn Tiệp Đan†, Võ Thị Hà Hoa* Khoa Y, Đại học Duy Tân DOI TÓM TẮT Mục tiêu Đánh giá chất lượng giấc ngủ theo thang điểm Pittsburgh và ứng dụng của chu kì giấc ngủ đối với sinh viên y khoa trường Đại học Duy Tân. Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu mô tả cắt ngang, tiến cứu sau can thiệp thực hiện từ tháng 9/2019 đến tháng 8/2020. Giai đoạn 1 Thực hiện trên 616 sinh viên y khoa qua phiếu điều tra tự điền dựa vào bộ câu hỏi Chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh PSQI và số liệu được xử lí bằng phần mềm SPSS Excel. Giai đoạn 2 áp dụng phương pháp ngủ theo chu kì và tiến hành khảo sát đánh giá sau khi tiến hành phổ biến công thức chu kì giấc ngủ và ích lợi mang lại vào thời điểm 2 tuần thi kết thúc học phần. Đánh giá hiệu quả ứng dụng chu kì giấc ngủ thu thập qua phiếu khảo sát. Kết quả Giờ ngủ trung bình của sinh viên là giờ SD = Tỷ lệ sinh viên có chất lượng giấc ngủ kém là n = 616. Phân tích thời gian đi ngủ cho thấy có đến sinh viên đi ngủ sau 0h nhưng chỉ có sinh viên thức dậy sau 8h00. Giai đoạn 2 số lượng sinh viên tham gia đánh giá ứng dụng chu kì giấc ngủ là 19,3% n = 119, có 62,2% sinh viên đã sử dụng chu kì giấc ngủ, trong đó 83,6% thấy phương pháp này mang lại hiệu quả. Hiệu quả mang lại giảm mệt mỏi 71% và tỉnh táo hơn 66,1%. Tần suất cao nhất được sử dụng là 3 – 5 lần/tuần chiếm 48,6%, 6 – 7 lần/tuần chiếm 12,2%. Giá trị trong công thức chu kì giấc ngủ được sử dụng nhiều nhất là n = 3 chiếm 47,3%. Kết luận Đánh giá chất lượng giấc ngủ theo thang điểm Pittsburgh tỷ lệ sinh viên có chất lượng giấc ngủ kém là Sau ứng dụng của chu kì giấc ngủ kết quả ghi nhận giảm mệt mỏi đến 71% và tỉnh táo hơn 66,1%. Từ khóa Chất lượng giấc ngủ, sinh viên y khoa, thang đo chất lượng giấc ngủ Pittsburgh PSQI. ABSTRACT Surveying sleep quality and applying s leep cycle to medical students at Duy Tan university Do The Bon†, Le Thi Yen Nhi†, Nguyen Tiep Dan†, Vo Thi Ha Hoa* Faculty of Medicine, Duy Tan University †co-first authors, *instructors Objectives Evaluation of sleep quality on the Pittsburgh scale and the application of the sleep cycle to medical students at Duy Tan University. Research Methods Cross-sectional descriptive studies, post-intervention research conducted from September 2019 to August 2020. Stage 1 Performed on over 616 medical students through self-filled questionnaires based on the Pittsburgh Sleep Quality Index PSQI questionnaire and the data were processed using SPSS software, Excel. Stage 2 Application of the cycle sleep method and conducting survey and evaluation after disseminating the sleep cycle formula and its benefits at the 2-week exam period. Evaluation of the effectiveness of sleep cycle application collected through survey questionnaires. Results The average student sleep time is hours SD = The proportion of students with poor sleep quality was n = 616. Analysis of bedtime showed that up to of students went to bed after 0 o'clock, but only of students woke up after 800 AM. In Stage 2, the number of students participating in the application of sleep cycle evaluation was n = 119, there was of students adopted the sleep cycle, of which found this method effective. Effectively reduced fatigue 71% and boosted alertness The highest frequency adopted was 3-5 times/week, accounting for 6-7 times/week, accounting for The value in the most adopted sleep cycle formula is n =

nghiên cứu về giấc ngủ