Nghiên cứu khoa học. Vai trò của hoạt động nhận thức trong tâm lý học và trong xét xử các vụ án Hình sự. . Ths. Nguyễn Thị Minh. Trong hoạt động tư pháp nói chung, hoạt động xét xử nói riêng, nhận thức đóng một vai trò hết sức quan trọng. Nó là bộ phận, một mặt Khi nói về lĩnh vực nghiên cứu của tội phạm học bao gồm tỷ lệ, hình thức, nguyên nhân và hậu quả của tội phạm, cũng như các quy định xã hội và chính phủ và phản ứng đối với tội phạm. Đối với nghiên cứu về sự phân bố và nguyên nhân của tội phạm, tội phạm học chủ yếu dựa vào phương pháp nghiên cứu định lượng. Có tác giả cho rằng, tội phạm ẩn thống kê thực chất vẫn là tội phạm rõ vì khi đưa ra xét xử rồi thì đương nhiên vẫn là tội phạm rõ, còn việc thống kê chính thức của tòa án là do nhiều nguyên nhân khác nhau[16]; có tác giả cho rằng, việc nghiên cứu "tội phạm ẩn 2.2. Ý nghĩa của việc nghiên cứu tâm lý tội phạm: - Tâm lý học là một ngành khoa học xã hội mang tính ứng dụng cao, tâm lý học có nhiều phân ngành khác nhau. Trong đó có tâm lý học tội phạm, việc nghiên cứu và tìm hiểu tâm lý của người phạm tội sẽ giúp cho các cơ Với tư cách là ngành khoa học xã hội pháp lý, tội phạm học có đối tượng nghiên cứu riêng, có phương pháp nghiên cứu tội phạm học khác với các ngành khoa học pháp lý khác. Cụ thể, đối tượng nghiên cứu của tội phạm học bao gồm những nội dung cơ bản sau: 2.1. Tình Tội phạm có nhiều khách thể trực tiếp khi hành vi phạm tội xâm hại đến nhiều quan hệ xã hội mà việc xem xét sự gây thiệt hại đối với bất cứ một quan hệ xã hội nào cũng không thể hiện đầy đủ bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi đó và nhiều khách thể n3lA. Đối tượng nghiên cứu của tội phạm học là những vấn đề sự vật, hiện tượng mà ngành khoa học này nghiên cứu trong những phạm vi, mức độ nghiên cứu cụ thể nhằm đạt được mục đích của nó. Đối tượng nghiên cứu của tội phạm học Việt Nam gồm bốn vấn đề cơ bản sau đây1. Tình hình tội phạm Để có cơ sở phòng chống tội phạm trước hết phải hiểu bản chất của nó. Luật hình sự nghiên cứu tội phạm ở mức độ hành vi. Hành vi phạm tội có những thuộc tính, dấu hiệu đặc trưng khác với những hành vi xã hội khác”. Tuy nhiên, tội phạm được tội phạm học nghiên cứu ở các mức độ tồn tại khác nhau, không chỉ ở mức độ hành vi mà còn ở mức độ chung nhất, khái quát nhất, đó là “tình hình tội phạm”. Và chỉ khi có sự nghiên cứu tội phạm từ mức độ hành vi sang mức độ khái quát như vậy thì mới có thể nhận thức được đầy đủ “bức tranh” tình hình tội phạm, từ đó định ra một chiến lược, chương trình phòng ngừa tội phạm đồng bộ ở các cấp độ. Ở góc độ xã hội, tội phạm học quan niệm tình hình tội phạm là một hiện tượng xã hội được hình thành từ những xử sự có tính xã hội. Ở góc độ pháp lý, tình hình tội phạm được tạo thành từ những hành vi bị luật hình sự coi là tội phạm. Như vậy, tội phạm học đã tiếp cận tình hình tội phạm ở khía cạnh xã hội – pháp lý. Hình minh họa. Đối tượng nghiên cứu của tội phạm học Tình hình tội phạm tồn tại khách quan và có những đặc điểm, thuộc tính riêng của nó. Dựa vào các thuộc tính, đặc điểm này có thể biết được tính chất của tình hình tội phạm và phân biệt nó với các hiện tượng khác hiện diện trong xã hội. Vì vậy, những thuộc tính, dấu hiệu của tình hình tội phạm là nội dung đầu tiên của tình hình hình tội phạm được tội phạm học nghiên cứu. Mặt khác, các thông số của tình hình tội phạm cũng được tội phạm học làm sáng tỏ để có cơ sở đánh giá sự tồn tại, phổ biến của tình hình tội phạm đã xảy ra. Như vậy, các thuộc tính, đặc điểm tình hình tội phạm và các thông số tình hình tội phạm là hai nội dung đầu tiên, quan trọng cần nhận thức về tình hình tội phạm. Tội phạm học nghiên cứu tình hình tội phạm ở ba mức độ tình hình tội phạm chung bao gồm tất cả các tội phạm, loại tội phạm bao gồm những tội phạm có cùng đặc điểm, tính chất và tội phạm cụ thể. Mỗi mức độ tồn tại đều có quy luật riêng và giữa chúng có mối quan hệ biện chứng tuân theo quy luật của cặp phạm trù cái chung – cái riêng của phép biện chứng duy vật. Tình hình tội phạm cũng được tội phạm học nghiên cứu ở những phạm vi địa bàn hoặc ngành – lĩnh vực khác nhau và trong những giai đoạn, thời điểm khác nhau. Có thể nói tình hình tội phạm là khái niệm cơ bản, trung tâm trong tội phạm học. Những hiểu biết ban đầu về tình hình tội phạm sẽ mở ra những nội dung nghiên cứu khác có liên quan như nguyên nhân phạm tội, dự báo tình hình tội phạm, phòng ngừa tội phạm,… 2. Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm Sự tồn tại tình hình tội phạm luôn luôn có nguyên nhân và điều kiện. Nhu cầu nhận thức về tình hình tội phạm tất yếu đưa đến việc tìm hiểu các nguyên nhân và điều kiện của nó. Mặt khác, hoạt động phòng ngừa tội phạm hướng đến loại bỏ các nguyên nhân và điều kiện. Như vậy, nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm là nội dung quan trọng thuộc đối tượng nghiên cứu của tội phạm học. Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm được tội phạm học nghiên cứu là những hiện tượng, quá trình có khả năng làm phát sinh, tồn tại tình hình tội phạm. Nội dung và yêu cầu nghiên cứu là làm sáng tỏ những hiện tượng, quá trình nào có vai trò làm phát sinh, tồn tại tình hình tội phạm cũng như mối quan hệ tác động qua lại giữa chúng trong cơ chế đó. Vấn đề quan trọng là chứng minh được mối quan hệ nhân quả để thấy được tình hình tội phạm là kết quả tất yếu của một số nguyên nhân và điều kiện nhất định. Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm được nghiên cứu ở phạm vi và mức độ chung nhất nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm, ở phạm vi và mức độ loại tội phạm nguyên nhân và điều kiện của loại tội phạm, ở phạm vi và mức độ tội phạm cụ thể. Trên cơ sở các nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm có thể biết được quy luật của tình hình tội phạm, xu hướng của nó và xây dựng các biện pháp phòng ngừa nó trong tương lai. 3. Nhân thân người phạm tội Tội phạm do con người thực hiện, do đó muốn tìm hiểu bản chất tội phạm hoặc tình hình tội phạm cần nghiên cứu con người phạm tội, mà cụ thể là làm sáng tỏ các đặc điểm nhân thân. Mặt khác, các biện pháp phòng chống tội phạm chủ yếu tác động đến con người phạm tội và các mối quan hệ xã hội của con người. Do đó, nhân thân người phạm tội trở thành đối tượng nghiên cứu của tội phạm học… Nhân thân người phạm tội được tội phạm học nghiên cứu bao gồm các đặc điểm đặc trưng, điển hình phản ánh bản chất người phạm tội. Những đặc điểm này có vai trò trong cơ chế hành vi phạm tội, góp phần làm phát sinh tội phạm. Nội dung nghiên cứu nhân thân người phạm tội, trước hết là tìm hiểu nguồn gốc hình thành các đặc điểm nhân thân, sau đó phân tích để làm sáng tỏ đặc điểm, tính chất và mức độ tác động các đặc điểm nhân thân đó trong cơ chế tâm lý xã hội của hành vi phạm tội. Mặt khác, mối quan hệ biện chứng giữa các đặc điểm sinh học và các đặc điểm xã hội của người phạm tội cũng là một chủ đề quan trọng của tội phạm học. Vấn đề phân loại kiểu hóa người phạm tội cũng được tiến hành sau khi tìm hiểu các đặc điểm nhân thân người phạm tội. Những đặc điểm nhân thân người phạm tội được nghiên cứu ở các khía cạnh sinh học, tâm lý, xã hội và pháp lý. Tất nhiên, không phải tất cả các đặc điểm nhân thân của người phạm tội đều là đối tượng nghiên cứu của tội phạm học mà chỉ có những đặc điểm nhân thân nào có ý nghĩa đối với việc thực hiện tội phạm và phòng chống tội phạm mới được tội phạm học nghiên cứu. Chỉ khi nào nhận thức một cách đầy đủ, sâu sắc về con người phạm tội thông qua các đặc điểm nhân thân của họ mới có thể “giải mã” được vì sao một người phạm tội và phạm tội này chứ không phạm tội khác. Và khi đó có thể dự báo được tội phạm và phòng ngừa tội phạm có hiệu quả. 4. Phòng ngừa tội phạm Phòng ngừa tội phạm là mục tiêu, đồng thời cũng là đối tượng nghiên cứu của tội phạm học. Kết quả của quá trình nhận thức về tội phạm và con người phạm tội sẽ đem lại nhiều ý nghĩa nếu được vận dụng vào thực tiễn phòng ngừa tội phạm. Phòng ngừa tội phạm được tội phạm học nghiên cứu bao gồm các biện pháp, các nguyên tắc, các chủ thể phòng ngừa tội phạm; vấn đề dự báo tội phạm và kế hoạch hóa hoạt động phòng ngừa tội phạm. Phòng ngừa tội phạm được nghiên cứu ở phương diện xã hội và pháp lý; phòng ngừa toàn bộ tội phạm nói chung, phòng ngừa loại tội phạm và tội phạm cụ thể; phòng ngừa theo chủ thể chịu tác động của biện pháp; phòng ngừa tội phạm ở phạm vi quốc gia, địa phương, ngành và lĩnh vực hoạt động xã hội. Như vậy, chỉ khi nào tội phạm học nghiên cứu đầy đủ những vấn đề cơ bản nêu trên thì mới có thể nhận thức đầy đủ về tình hình tội phạm và lĩnh vực hoạt động phòng ngừa tội phạm. Ngoài ra, tội phạm học còn nghiên cứu những vấn đề liên quan khác như Lịch sử hình thành và phát triển tội phạm học, Nạn nhân học, Tội phạm học nước ngoài, Hợp tác quốc tế trong phòng ngừa tội phạm…. Tầm quan trọng và hướng nghiên cứu của nó được tóm tắt như sau Thứ nhất, Lịch sử hình thành và phát triển tội phạm học. Khía cạnh lịch sử của tội phạm học phản ánh “dòng chảy” tư tưởng về tội phạm và phòng ngừa tội phạm xuyên suốt các thời kỳ lịch sử cùng với các thành tựu cũng như những hạn chế của nó. Nghiên cứu lịch sử là để kế thừa và định hướng phát triển tội phạm học. Mặt khác, những sáng kiến, kinh nghiệm được rút ra từ lịch sử tội phạm học có thể được vận dụng trong thực tiễn phòng chống tội phạm. Ngày nay, tri thức về lịch sử của tội phạm học có vị trí quan trọng trong hệ thống tội phạm học. Thứ hai, Nạn nhân học. Nạn nhân của tội phạm cũng là đối tượng nghiên cứu của tội phạm học. Nếu đặt vấn đề vì sao một người phạm tội và tìm hiểu nhân thân người phạm tội, thì ngược lại, cũng cần đặt câu hỏi vì sao một người trở thành nạn nhân của tội phạm và tất yếu phải nghiên cứu khía cạnh nạn nhân của tội phạm. Nạn nhân được nghiên cứu trong tội phạm học không hạn chế ở việc giải thích các tình huống phạm tội liên quan đến nạn nhân mà còn giải quyết nhiều nhiệm vụ lý luận và thực tiễn khác về phòng ngừa tội phạm. Tri thức về nạn nhân của tội phạm nạn nhân học còn được xem như là phần phụ sub-area của tội phạm học. Thứ ba, Tội phạm học nước ngoài. Ngày nay, tội phạm học phát triển mạnh ở nhiều quốc gia và có những đóng góp đáng kể cho hoạt động phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, quan điểm về tội phạm và phòng ngừa tội phạm trong lý luận và thực tiễn của các nước có thể có những điểm tương đồng và khác biệt cần được tham khảo, đặc biệt là tội phạm học của những nước có trình độ phát triển. – Một hướng tiếp cận khác đối với tội phạm học nước ngoài là nghiên cứu ở góc độ so sánh – gọi là “Tội phạm học So sánh” Comparative Criminology. Như vậy, tội phạm học nước ngoài cũng là một đối tượng nghiên cứu đồng thời là một lĩnh vực tri thức của Tội phạm học. Thứ tư, hợp tác quốc tế về phòng chống tội phạm. Nếu xem xét vấn đề một cách độc lập thì hợp tác quốc tế phòng chống tội phạm diễn ra ở ba hướng chính. Một là, hợp tác thông qua lập pháp hình sự, trong đó các quốc gia thống nhất về các dấu hiệu pháp lý hình sự đối với các tội phạm có tính chất quốc tế như khủng bố, rửa tiền, buôn bán người,… và tinh thần áp dụng các biện pháp chế tài đối với các tội phạm đó. Hai là, các quốc gia thỏa thuận nội dung, cách thức tương trợ tư pháp hình sự theo dõi, điều tra tội phạm, dẫn độ, chuyển giao phạm nhân thi hành hình phạt tù,…. Thực chất đây là hợp tác ở khía cạnh tố tụng hình sự. Ba là, hợp tác trong việc trao đổi thông tin về tội phạm có tính chất quốc tế, nguyên nhân và xu hướng của nó; hợp tác trong việc áp dụng các biện pháp kiểm soát tội phạm và phòng ngừa tội phạm giữa các quốc gia, giữa các quốc gia với các tổ chức quốc tế; hợp tác trong đào tạo cán bộ, hỗ trợ phương tiện kỹ thuật, tài chính,… Hợp tác quốc tế về phòng chống tội phạm ở khía cạnh này là đối tượng nghiên cứu của tội phạm học. Nguyên nhân của tội phạm là vấn đề luôn làm các nhà nghiên cứu phải đau đầu bới tìm hiểu về nguyên nhân của tội phạm đòi hỏi người nghiên cứu phải tiếp cận đa chiều với việc phân tích các nhân tố khác nhau có thể tác động, ảnh hưởng đến việc phát sinh tội phạm. Khái niệm Nguyên nhân của tội phạm là tổng hợp các nhân tố mà sự tác động qua lại giữa chúng đưa đến việc thực hiện tội phạm của người phạm rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tội phạm, ở mức độ tổng quan có thể chia nguyên nhân của tội phạm thành những nhóm nguyên nhân sau - Nhóm nguyên nhân từ môi trường sống; - Nhóm nguyên nhân xuất phát từ phía người phạm tội; - Tình huống cụ thể trong một số trường hợp được coi là nguyên nhân đưa đến việc phát sinh tội phạm; Như vậy có thể tóm gọn lại có thể mô tả nguyên nhân tội phạm như sau Cá nhân chịu tác động từ môi trường sống tiêu cực khi gặp những tình huống cụ thể sẽ hình thành nên nhân cách sai lệch cá nhân từ đó nảy sinh ý định phạm tội đồng thời tiếp tục gặp những tình huống cụ thể từ đó dẫn đến việc thực hiện tội phạm. Phân loại nguyên nhân của tội phạm Tội phạm phát sinh là kết quả tác động của hàng loạt các nguyên nhân khác, nhau. Trong tội phạm học, các nhà khoa học có các cách phân loại nguyên nhân của tội phạm sauThứ nhất, căn cứ vào mức độ tác động của nguyên nhân trong việc làm phát sinh tội phạm, có thể chia nguyên nhân thành nguyên nhân chủ yếu và nguyên nhân thứ yếu. Nguyên nhân chủ yếu làm phát sinh tội phạm là những nhân tố đóng vai trò chủ chốt trong việc làm phát sinh tội phạm và những nhân tố này chiếm tỉ trọng đáng kể trong tổng số các nhân tố làm phát sinh tội phạm. Nguyên nhân thứ yếu làm phát sinh tội phạm là những nhân tố chỉ đóng vai trò hạn chế trong việc làm phát sinh 101 phạm và những nhân tố này chiếm tỉ trọng không đáng kể trong tông sô các nhân tố làm phát sinh tội hai, căn cứ vào nguồn gốc xuất hiện, có thể chia nguyên nhân của tội phạm thành nguyên nhân bắt nguồn từ môi trường sống và nguyên nhân xuất phát từ phía người phạm tội. Nguyên nhân bắt nguồn từ môi trường sống là tổng hợp các nhân tố tiêu cực được hình thành từ môi trường sống của cá nhân có thể tác động, ảnh hưởng đến cá nhân ở mức độ nhất định mà từ đó làm phát sinh tội phạm. Ví dụ như các nhân tố môi trường gia đình không hoàn thiện, môi trường nơi cư trú có nhiều tệ nạn xã hội... Nguyên nhân xuất phát từ phía người phạm tội là tổng hợp những nhân tố tiêu cực thuộc về nhân thân người phạm tội có thể tác động, ảnh hưởng, dẫn đến việc làm phát sinh tội phạm của người phạm tội. Những nhân tố tiêu cực này có thể là các yếu tố thuộc về sinh học, tâm lí, xã hội-nghề nghiệp của người phạm ba, căn cứ vào lĩnh vực hình thành nguyên nhận có thể chia nguyên nhân của tội phạm thành các nguyên nhân sau Đầu tiên, với nguyên nhân về kinh tế-xã hội Đây là những nhân tố thuộc về lĩnh vực kinh tế-xã hội có thể tác động làm phát sinh tội phạm như tình trạng thât nghiệp, đói nghèo, tác động của quá trình đô thị và công nghiệp hoá, tác động của quá trình di dân... Tiếp theo, nguyên nhân về văn hoá, giáo dục Đây có thể là những nhân tố hạn chế trong quá trình quản lí, triển khai thực hiện các chính sách, chương trình về văn hoá, giáo dục có thể tác động, ảnh hưởng làm phát sinh tội phạm. Ví dụ Nhà trường chưa coi trọng việc giáo dục các em gái biết cách tự bảo vệ bản thân nhằm ngăn chặn hiệu quả tội phạm tình dục. Bên cạnh đó nguyên nhân về tổ chức qụản lí có thể là do một số thiếu sót, bât cập trong hoạt động của các cơ quan chức năng có thẩm quyền quản lí trong lĩnh vực nhất định. Thuộc về nguyên nhân này có thể là các nhân tố như buông lỏng quản lí, đùn đẩy trách nhiệm, không hợp tác trong giải quyết vụ việc,... Cuối cùng là nguyên nhân về chính sách, pháp luật Đây có thể là một số thiếu sót, bất cập của chính sách, pháp luật có thể tác động, ảnh hưởng làm phát sinh tội phạm. Ví dụ như quy định về giải phóng mặt bằng, đền bù đất nông nghiệp còn lỏng lẻo dẫn đến một số cá nhân hoặc doanh nghiệp lợi dụng sơ hở của pháp luật để đền bù không thoả đáng cho một số hộ dân dẫn đến những người này có phản ứng tiêu cực là chống người thi hành công vụ. Khuyến nghị 1. Bài viết được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại. 2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị đây chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 19006198, E-mail [email protected]. Download Xã hội học pháp luật Phân tích mô hình nghiên cứu hiện tượng tội phạm theo yêu cầu and more Sociology of Law Thesis in PDF only on Docsity! BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI TIỂU LUẬN MÔN XÃ HỘI HỌC PHÁP LUẬT Đề tài Phân tích mô hình nghiên cứu hiện tượng tội phạm theo khu vực địa lý, giới tính và sự phân tầng xã hội, cho ví dụ cụ thể về tội phạm mua bán người Bài làm có ít nhất 5 điều luật của các văn bản pháp luật được trích dẫn. Họ và tên PHAN DIỆU LINH Ngày, tháng, năm sinh 22/10/2003 MSSV 460823 Lớp 4608 N15-TL1 Ngành Luật chung DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TAND Tòa án Nhân dân UBND Uỷ ban Nhân dân BLHS Bộ Luật hình sự MỤC LỤC MỞ ĐẦU.................................................................................................................................................2 II. NỘI DUNG...........................................................................................................................................2 1. Mô hình nghiên cứu hiện tượng tội phạm theo khu vực địa lý, giới tính và sự phân tầng xã hội.......2 Khái niệm chung về hiện tượng tội phạm....................................................................................2 Mô hình hiện tượng tội phạm theo khu vực địa lý......................................................................2 Mô hình nghiên cứu hiện tượng tội phạm theo giới tính............................................................3 Mô hình nghiên cứu hiện tượng tội phạm theo sự phân tầng xã hội..........................................4 2. Liên hệ phân tích mô hình nghiên cứu tội phạm mua bán người.......................................................4 Pháp luật hành quy định hành vi mua bán..................................................................................4 Mô hình nghiên cứu tội phạm mua bán người theo khu vực địa lý.............................................6 Mô hình nghiên cứu tội phạm mua bán người theo giới tính......................................................7 Mô hình nghiên cứu tội phạm mua bán người theo phân tầng xã hội........................................7 KẾT LUẬN...............................................................................................................................................8 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................................................9 1 tâm sinh lý của nam giới, họ là những người thuộc về “phái mạnh”, thường có xu hướng “hành động” hơn là “lời nói”. Nhiều khi những tình huống mâu thuẫn xảy ra, họ thường dùng hành động để giải quyết. Sự kiềm chế của nam giới cũng kém hơn phụ nữ nên khi bị kích động đến một giới hạn nhất định, nam giới rất có thể sẽ dễ dàng gây ra hành vi phạm tội. Ở một số khía cạnh khác, nam giới vì “cái tôi” bản thân quá cao nên cũng rất dễ bị chính những thứ gọi là “sĩ diện” đó chi phối hành vi. Hơn nữa, trong cuộc sống thường ngày, nam giới cũng là phái phải gánh trên vai trách nhiệm, là trụ cột của gia đình. Áp lực từ công việc, từ cuộc sống cũng là một phần nhân tố tác động đến hành vi phạm tội của họ. Đặc biệt, trong tội phạm cụ thể như tội hiếp dâm, vì đặc điểm sinh lý, nên người phạm tội chỉ có thể là nam giới phụ nữ chiếm rất ít, hầu như không đáng kể. Hay như tội bạo hành, ngược đãi thì người phạm tội cũng đa phần là nam giới. Mô hình nghiên cứu hiện tượng tội phạm theo sự phân tầng xã hội Đây mô hình nghiên cứu tượng tội phạm dựa theo phân tích cấu xã hội - giai cấp. Sự phân tầng xã hội cùng với qúa trình phân hóa giàu nghèo xã hội đưa tới hình thành nên giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau, có mức sống và chất lượng sống khác Những điều kiện xã hội như sự nghèo khổ, bất ổn định về kinh tế, tình trạng nhà ở tồi tàn, định hướng giáo dục kém… dễ dẫn tới tội phạm hơn. Do đó, tầng lớp bình dân, người nghèo thường mắc phải tội phạm nhiều hơn vì họ phải đối đầu nhiều hơn với các hoàn cảnh kinh tế và xã hội gay go. Ngoài ra con em của họ có thể bị xã hội hóa nhiều hơn theo cung cách tiếp xúc với môi trường tội phạm trong quá trình xã hội hóa cá nhân, bởi do mải mê với công việc mưu sinh, người nghèo ít có điều kiện, công sức, tiền bạc dành cho việc chăm sóc, bảo vệ, giáo dục con em. 2. Liên hệ phân tích mô hình nghiên cứu tội phạm mua bán người Pháp luật hành quy định hành vi mua bán Mua bán người là việc mua bán, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp hoặc nhận người nhằm thu lợi nhuận bất hợp pháp từ việc bóc lộc các nạn nhân dưới nhiều hình thức khác nhau như bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy và buôn bán nội tạng... Điều 20 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt 2 Chủ biên Văn Nhân, Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Xã hội học pháp luật, NXb Tư pháp, 2018, tr 364, Hà Nội 4 Nam quy định “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm thân thể, pháp luật bảo vệ sức khỏe, danh dự nhân phẩm, không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay hình thức đối xử khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm”. Do đó, thân thể, phận thể tài sản vô giá người, việc mua bán người, phận thể người bị pháp luật cấm. Tội phạm mua bán người đã được BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 quy định tại Điều 150 Tội mua bán người, Điều 151 Tội mua bán người dưới 16 tuổi và Điều 154 Tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người. Cùng với các điều luật liên quan bao gồm quy định tại khoản a Điều 6 Luật đầu tư 61/2020/QH14 quy định “Mua, bán người, mô, xác, bộ phận thể người, bào thai người” ngành nghề cấm đầu tư kinh doanh và Điều 10 Luật phòng chống mua bán người về “Quản lý các hoạt động kinh doanh, dịch vụ”. Cùng với khoản 6 Điều 11 Luật Hiến, lấy, ghép mô, phận thể người hiến xác năm 2006 “Mua, bán mô, phận cơ thể người; mua, bán xác; Lấy, ghép, sử dụng, lưu giữ mô, bộ phận thể người mục đích thương mại” hành vi bị nghiêm cấm thực. Ngoài ra, hiến mô, bộ phận thể người là việc cá nhân tự nguyện hiến mô, bộ phận thể cơ thể sống sau khi chết. Đây là quyền công dân, cá nhân quy định Điều 35 Bộ luật Dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 Quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác “Cá nhân có quyền hiến mô, bộ phận cơ thể của mình khi còn sống hoặc hiến mô, bộ phận cơ thể, hiến xác của mình sau khi chết vì mục đích chữa bệnh cho người khác hoặc nghiên cứu y học, dược học và các nghiên cứu khoa học khác. Cá nhân có quyền nhận mô, bộ phận cơ thể của người khác để chữa bệnh cho mình. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, pháp nhân có thẩm quyền về nghiên cứu khoa học có quyền nhận bộ phận cơ thể người, lấy xác để chữa bệnh, thử nghiệm y học, dược học và các nghiên cứu khoa học khác. Việc hiến, lấy mô, bộ phận cơ thể người, hiến, lấy xác phải tuân thủ theo các điều kiện và được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác và luật khác có liên quan.” Như vậy, pháp luật hành quy định nguyên tắc việc hiến, lấy, ghép mô, phận thể người hiến, lấy xác bao gồm Tự nguyện người hiến, người ghép; Vì mục đích nhân đạo, chữa bệnh, giảng dạy nghiên cứu khoa học; Không nhằm mục đích thương mại; Giữ bí mật thông tin có liên quan đến người hiến, người ghép, trừ trường hợp bên có thỏa thuận khác pháp luật có quy định khác. 5 Mô hình nghiên cứu tội phạm mua bán người theo khu vực địa lý Nơi có số người bệnh chữa trị tại các bệnh viện uy tín lớn đặc biệt là ở Hà Nội, chính vì đó mà một số đối tượng đã lợi dụng, có hành vi mua bán bộ phận cơ thể người càng xuất hiện tràn lan, bất hợp pháp. Nguyên nhân sâu xa của vấn nạn mua bán bộ phận thể người cầu vượt cung nên ngành ghép tạng nước ta phải đối mặt với thực trạng thiếu trầm trọng nguồn phận thể để cấy ghép. Ví dụ Ngày 15/10, Phòng Cảnh sát hình sự Hà Nội đã khởi tố bị can với Trần Văn Phương 29 tuổi để điều tra về tội Mua bán mô và bộ phận cơ thể người, theo điều 154 BLHS 2015 sửa dổi, bổ sung 2017. Liên quan vụ án, cơ quan điều tra đang làm rõ hành vi của Lê Thùy Linh 22 tuổi, Bình Dương, Hoàng Ngọc Tiến 30 tuổi, Quảng Trị và Phan Văn Hùng 27 tuổi, Nghệ An. Theo điều tra của cảnh sát, nắm bắt được nhu cầu ghép thận của người bệnh, Phương đăng tin trên mạng xã hội về việc tìm người mua - bán thận. Khi có người liên lạc, Phương thu xếp để người bán và mua gặp nhau, đồng thời làm giả hồ sơ dưới dạng tự nguyện hiến tặng cho nhau. Phương làm môi giới, giao dịch giá mua từ 250 triệu đồng đến 320 triệu, song "báo giá" với người cần ghép thận là 340-360 triệu đồng để hưởng chênh lệch. Với mật độ dân số cao, việc đối tượng tìm kiếm nạn nhân để thực hành vi mua bán phận thể người dễ dàng so với khu vực nông thôn. Đô thị hay thành phố lớn nơi người từ nhiều nơi tập trung để sinh sống, làm việc học tập phân tích lối sống thị thường mang tính dửng dưng, xã giao, thiếu tình người, thiếu tính cố kết cộng đồng. Ngược lại nông thôn, việc đối tượng xuất thực hành vi phạm tội cụ thể mua bán phận thể người dễ bị phát hiện, thị nơi thích hợp cho đối tượng mua bán phận thể người có nguồn cung lớn, mối giao dịch rộng kiểm sốt xã hội thị nhìn chung lỏng lẻo. Những năm gần đây, nông thôn trở thành điểm nóng tội phạm mua bán phận thể người. Những người dân nông thôn thường hạn chế kiến thức tầm hiểu biết. Cùng với quá trình đô thị hóa, nhiều nơi người dân bị thu hồi đất nông nghiệp, hưởng khoản đền bù lớn lại không biết đầu tư vào làm ăn quay vòng; sau thời gian tiêu xài, mua sắm cho thân, gia đình số tiền hết, họ trở lại với hai bàn tay trắng, không có đất canh tác và nghề nghiệp. Việc khiến họ dễ dàng rơi vào đường dây mua bán phận thể người, trờ thành người bán sau dụ dỗ gia đình bạn bè, thành người mua, cung cấp trái phép nhằm mục đích sinh lời. 6 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Gíao trình 1. Chủ biên Văn Nhân, Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Xã hội học pháp luật, NXb Tư pháp, 2018, Hà Nội. Bộ luật tham khảo 1. Bộ luật Dân năm 2015 sửa đổi bổ, sung năm 2017. 2. Bộ luật Hình năm 2015 sửa đổi bổ, sung năm 2017. 3. Luật Đầu tư 2020. 4. Luật phòng chống mua bán người 2011. 5. Luật hiến lấy ghép mô phận thể người hiến lấy xác 2006. 6. Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013. Link tham khảo 1. Mua bán nội tạng tại Hà Nội Hưởng chênh lệch 100 triệu/quả thận, theo VnExpress, Báo tiền phong, 15/10/2018. 2. Đồng Nai bắt đối tượng cầm đầu đường dây mua bán người qua Campuchia, Nguyễn Văn Việt TTXVN/Vietnam+, 4/1/2022. campuchia/ 3. Thảm cảnh từ nạn buôn người qua biên giới, Cổng thông tin hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, 11/9/2011 theo vietbao. 9 Câu hỏi Khi nghiên cứu về tội phạm thì A. Tội phạm là một hiện tượng mang tính tự nhiên B. Tội phạm là một hiện tượng xã hội mang tính lịch sử C. Tội phạm là một hiện tượng tồn tại vĩnh viễn D. Tội phạm là một hiện tượng mang tính bẩm sinh Lời giải tham khảo Đáp án đúng B Trang chủ Hướng Nghiệp Đại cương ADMICRO A. Tội phạm là một hiện tượng mang tính tự nhiên B. Tội phạm là một hiện tượng xã hội mang tính lịch sử C. Tội phạm là một hiện tượng tồn tại vĩnh viễn D. Tội phạm là một hiện tượng mang tính bẩm sinh Hãy suy nghĩ và trả lời câu hỏi trước khi xem đáp án ANYMIND360 / 1 Câu hỏi này thuộc ngân hàng trắc nghiệm dưới đây, bấm vào Xem chi tiết để làm toàn bài ZUNIA12 ZUNIA9 ADMICRO TÀI LIỆU THAM KHẢO

khi nghiên cứu về tội phạm thì